[FireBoy]
New Member
1- Tăng tốc độ thực hiện của hệ thống:
Mặc định Windows sẽ tự mình điều khiển các thiết lập về tốc độ xử lý của hệ thống sao cho phù hợp, nhưng đôi khi Windows lại “lạm dụng” điều này ưu tiên xử lý cho các công việc không cần thiết, gây lãng phí tài nguyên hệ thống. Do vậy để hệ thống dành nhiều tài nguyên hơn cho các công việc cụ thể, bạn hãy thay đổi lại như sau:
Bấm chuột phải vào My Computer rồi chọn Properties (hoặc đơn giản nhấn phím Window+Break), tiếp theo chọn thẻ Advanced, bấm nút Settings trong khung Performance, chọn thẻ Visual Effects, chọn nút Adjust for best performance. Sau đó, trong khung danh sách các thiết lập bên dưới, cuộn xuống và đánh dấu hộp Use visual styles on windows and buttons rồi bấm OK hai lần để đóng lại các cửa sổ.
2- Tối ưu bộ nhớ hệ thống:
Việc tinh chỉnh này sẽ tạo cho “nhân” của Windows chạy trong bộ nhớ để tăng tốc hệ thống, đưa các dữ liệu vào bộ nhớ để xử lý nhanh hơn (thay vì xử lý từ bộ nhớ ảo trên đĩa cứng). Lưu ý: để chỉnh sửa các thiết lập này yêu cầu máy tính có RAM tối thiểu là 256MB. Cách thực hiện như sau:
Bấm Start > Run > gõ regedit > OK hoặc Enter. Sau đó tìm đến khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Session Manager\Memory Management. Trong cửa sổ bên phải, bấm kép mục DisablePagingExecutive và thay đổi lại giá trị là 1, tiếp theo bấm kép mục LargeSystemCache và cũng thay đổi lại giá trị là 1.
Kế tiếp, tại khoá này bạn tạo mục mới kiểu DWORD tên là IOPageLockLimit (bấm chuột phải vào một vùng trống, chọn New > DWORD Value) và đặt giá trị của nó như sau: nếu máy tính của bạn có RAM là128MB thì đặt giá trị là 4000, 256MB thì đặt 10000, từ 512MB trở lên thì đặt 40000.
Tiếp theo, bạn tìm đến khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer, tạo một mục mới loại DWORD tên là AlwaysUnloadDLL và đặt giá trị là 1. Cuối cùng, đóng cửa sổ Registry Editor lại.
Kế tiếp, bạn cũng bấm lại Start > Run > gõ msconfig > OK, chọn thẻ SYSTEM.INI, bấm phần [386enh], bấm nút New và thêm mục mới "ConservativeSwapfileUsage=1" (không có dấu nháy kép), xong bấm OK. Nếu có hộp thông báo yêu cầu khởi động lại máy thì bạn bấm nút Exit Without Restart.
3- Tăng tốc xử lý tập tin:
Trước khi chỉnh sửa thiết lập này, bạn hãy kiểm tra lại hệ thống tập tin trên máy bằng cách vào My Computer, bấm chuột phải vào ổ đĩa C, chọn Properties. Trong thẻ General và ở dòng File system, nếu để chữ FAT32 thì bạn hãy bỏ qua bước này, ngược lại là chữ NTFS thì có thể chỉnh sửa cho thiết lập này như sau: Vào trình Registry Editor, tìm đến khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\FileSystem, thay đổi lại giá trị của mục DisableNTFSLastAccessUpdate là 1. Tiếp theo cũng tại khoá này, bạn tạo mục mới loại DWORD tên là NtfsMftZoneReservation và đặt giá trị của nó là 2.
4- Điều chỉnh chức năng Prefetch của Windows:
Chức năng này cho phép Windows tăng tốc chạy các ứng dụng, giảm thời gian khởi động máy hoặc cả hai. Mặc định Windows chọn giảm thời gian khởi động máy, nhưng bạn hãy thay đổi lại thiết lập này cho tối ưu hơn. Vào trình Registry Editor, tìm khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Session Manager\Memory Management\PrefetchParameters, thay đổi lại giá trị của mục EnablePrefetcher là 3.
5- Tăng tốc kết nối Internet lên 20%:
Mặc định Windows sẽ giới hạn lượng băng thông kết nối là 20%, nhưng bạn có thể bỏ giới hạn này để đạt được tốc độ kết nối tối ưu hơn. Bấm Start > Run > gõ gpedit.msc > OK, tìm theo đường dẫn Local Computer Policy\Computer Configuration\Administrative Templates\Network\QoS Packet Scheduler, bấm kép thiết lập Limit reservable bandwidth trong cửa sổ phải, chọn nút Enable, gõ số không (0) vào hộp Bandwidth limit, bấm OK rồi đóng cửa sổ Group Policy lại.
Tiếp theo bạn hãy vào phần thiết lập mạng bằng cách bấm Start > Settings > Network Connections, bấm chuột phải vào kết nối mạng của bạn và chọn Properties (hoặc bấm biểu tượng kết nối mạng ở khay hệ thống nếu nó hiện ra, bấm nút Properties), trong thẻ General đánh dấu giao thức QoS Packet Scheduler (nếu nó chưa được đánh dấu) rồi bấm OK.
Các thiết lập ở bước này tuy dành cho những loại hình kết nối tốc độ cao (như ADSL), nhưng qua thử nghiệm với loại kết nối Dial-up, kết quả đáng kinh ngạc, tốc độ lướt web tăng lên thật đáng kể.
Sau khi hoàn thành 5 bước trên, bạn hãy khởi động lại máy tính để cảm nhận sự khác biệt của hệ thống.
Các bước đơn giản để tăng tốc độ Windows Vista
Chỉ bằng một số thao tác nhanh gọn, người sử dụng có thể tạo nên sự khác biệt lớn về hiệu suất hoạt động của hệ thống chạy trên hệ điều hành mới của Microsoft.
Tắt Windows Search Indexing
Search Indexing thường xuyên duyệt file trên hệ thống nhằm hiển thị nhanh nội dung mỗi khi người sử dụng gõ lệnh tìm kiếm.
- Bấm Start -> Computer
- Nhấn chuột phải vào ổ C
- Tìm General Tab, bỏ mục Index this drive for faster searching
- Khi hộp hội thoại xuất hiện, chọn Include subfolders and files
Tắt Remote Differential Compression
Remote Differential Compression đánh giá các file trong mạng để có thể truyền chúng với băng thông nhỏ nhất. Việc liên tục kiểm tra sự thay đổi của file khiến hiệu suất hệ thống giảm đáng kể.
- Mở Control Panel
- Chuyển sang Classic View
- Chọn Program Features
- Chọn Turn Windows features on and off
- Tìm và bỏ dấu tích Remote Differential Compression
Tắt Automatic Windows Defender Operation
Đây là chế độ bảo vệ máy tính trước các phần mềm nguy hiểm theo thời gian thực của Windows.
- Mở Control Panel
- Chọn Windows Defender -> Tools
- Chọn Options
- Bỏ dấu tích Auto Start ở cuối cửa sổ
Tắt Automatic Disk Defragmentation
Tính năng giảm phân tán dữ liệu (defragment) hoạt động liên tục là điều không cần thiết và chỉ làm hệ thống ì ạch hơn. Người sử dụng chỉ cần nhớ thực hiện thao tác này hàng tuần hoặc hàng tháng là ổn.
- Bấm Start -> Computer
- Nhấn chuột vào ổ C
- Chọn Tools Tab
- Bỏ dấu tích ở ô Run on a schedule
Thêm ổ USB 2 GB để tận dụng Windows Ready Boost
Ready Boost là thuật ngữ mà Microsoft đặt cho việc sử dụng ổ USB như một bộ nhớ truy cập nhanh để hệ điều hành dùng thay thế RAM.
- Cắm ổ USB/flash
- Bấm Start -> Computer
- Bấm chuột phải vào USB Drive trong My Computer
- Chọn Ready Boost Tab
- Chọn Use this device
Tắt Windows Hibernation
Tính năng này tiêu tốn khá nhiều tài nguyên hệ thống. Nếu không thường xuyên sử dụng, bạn nên tắt nó.
- Chọn Control Panel -> Power Options
- Bấm vào Change Plan Settings
- Bấm Change Advanced Power Settings
- Mở Sleep selection -> Hibernate After selection
- Giảm thông số xuống 0
- Bấm Apply
Tắt System Restore
Người sử dụng cần cân nhắc khi gỡ bỏ bởi System Restore có nhiệm vụ phân tích và khôi phục hệ thống mỗi khi có trục trặc.
- Mở Control Panel -> System
- Bấm System Protection ở bảng bên trái
- Bỏ dấu tích Main system drive
Tắt User Access Control (UAC)
Tính năng mới của Windows Vista không ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất nhưng gây khó chịu bởi nó yêu cầu người sử dụng xác thực quyền truy cập mỗi ngày.
- Bấm Start -> Control Panel
- Chọn User Accounts
- Chọn Turn User Account Control on/off
- Bỏ dấu tích User Account Control Box
- Khởi động lại hệ thống
Windows Vista: Tắt các tính năng không cần thiết
Gỡ bỏ các tính năng không cần thiết.
Các phiên bản cao cấp của Windows Vista như Enterprise, Business Edition được tích hợp rất nhiều tính năng. Nhưng đôi khi chúng lại không cần thiết và làm cho máy hoạt động "ì ạch". Cách tốt nhất là tắt chúng đi để hệ thống không hao tổn tài nguyên.
Bạn có thể tắt hoặc gỡ bỏ hẳn bằng chấn lên nút Start, chọn Control Panel. Trong "Programs" nhấn "Uninstall a program".
Bên trình đơn, nhấn "Turn Windows features on or off". Cuộn danh sách các ứng dụng, tính năng được xổ ra và bỏ dấu chọn các ứng dụng hay tính năng nào bạn không muốn sử dụng. Ví dụ: bỏ chọn Windows Fax and Scan khi bạn không bao giờ dùng đến 2 chức năng Fax và scan này. Nhấn OK để hoàn tất việc thay đổi thiết lập.
Thay đổi vị trí mặc định của Windows Explorer
Bạn muốn tự mình đặt vị trí mặc định mà Windows Explorer sẽ mở thay cho thư mục Documents của tài khoản hiện hành, chọn shortcut của Windows Explorer, phải chuột lên nó và thay thế bằng những đoạn mã tùy chọn bên dưới đây:
- Điểm sáng cho "Computer" ở menu bên trái với tất cả các ổ đĩa được hiển thị nhưng không mở rộng và ổ C được chọn ở menu phải: %SystemRoot%\explorer.exe /e,/select,c:
- Desktop được chọn và không có gì khác được mở rộng: %SystemRoot%\explorer.exe /e,/n,/select,/root,c:
- Tất cả ổ đĩa được hiển thị và ổ đĩa (partition) hệ thống được mở rộng trong một giao diện nhỏ: %SystemRoot%\explorer.exe /e,/select,%systemroot%
- Chỉ có Windows Directory được hiển thị và mở rộng: %SystemRoot%\explorer.exe /e,/root,%systemroot%
- Tất cả ổ đĩa được hiển thị nhưng chỉ có ổ C là được chọn và mở rộng: %SystemRoot%\explorer.exe /e,c:
Hiển thị các tập tin "siêu" ẩn
Trong Windows Vista có nhiều tập tin hệ thống thuộc dạng "siêu" ẩn mặc dù bạn đã mở chế độ xem các tập tin ẩn trong Windows Explorer. Để xem được các tập tin này yêu cầu bạn phải "vọc" tới registry. Do đó, bạn cần sao lưu lại registry trước khi "đụng chạm" tới những phần nhạy cảm của Windows.
Gõ regedit trong hộp thoại Search, rồi tìm đến khóa: HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\Advanced . Trong khóa này có 1 khóa phụ là "SuperHidden", ta thiết lập lại giá trị của nó là "1" thì sẽ thấy được các tập tin "siêu ẩn" với Windows Explorer.
Tự động đăng nhập tài khoản
Nếu máy tính chỉ được sử dụng bởi một người thì ta có thể thiết lập cho tự động đăng nhập để tránh mất thời gian nhập tên tài khoản và mật khẩu. Các thao tác như sau:
- Chọn nút (quả cầu) Start, gõ "netplwiz" vào hộp thoại Search và chọn "netplwiz".
- Khung "Advanced User Accounts" xuất hiện, chọn thẻ Users.
- Bỏ chọn ở phần "Users must enter a user name and password to use this computer". Nhấn "Apply" để thực thi.
- Khi hộp thoại "Automatically Log On" mở ra, bạn cần nhập vào mật khẩu trong các phần yêu cầu (nhập cẩn thận để nhập 2 mật khẩu trùng nhau). Nhấn OK để hoàn tất.
Giờ bạn có thể khởi động lại hệ thống để thử nghiệm thiết lập vừa thay đổi.
Chip xin bổ xung thêm
Chỉnh sửa Registry Editor
Để tốc độ máy tăng lên chúng ta phải có một số tinh chỉnh trong bộ nhân của Windows, kích Start>Run, đánh regedit để kích hoạt Registry Editor. Chọn nhánh HKEY_CURRENT_USER >Control Panel>Desktop.
-AutoEndTask: Kích đúp và nhập số 1, mục đích là tự động tắt các dịch vụi treo nhanh chóng hơn.
-MenuShowDelay: Kích đúp và nhập số 0, mục đích để thanh Start hiện nhanh hơn.
-HungAppTimeout, WaitToKillAppTimeOut: kích đúp nhập giá trị 200 để giảm thời gian chờ đợi.
-Kích New>String Value: Nhấn F2 để đặt tên cho khoá này là WaitToKillServiceTimeout, nhấn đúp nhập giá trị 200.
Chọn nhánh HKEY_LOCAL_MACHINE>System>CurrentControlSet>Control: Kích đúp thẻ HungAppTimeout, nhập giá trị mới là 200.
Như vậy thời gian tắt máy của bạn sẽ nhanh hơn trước ít nhất là gấp đôi đấy.
Tăng cường bộ nhớ đệm
Đây là giải pháp nhằm tăng lượng bộ nhớ ảo giúp máy tính “dễ thở “ hơn khi lượng RAM đã cạn kiệt và cũng là điều kiện để một số game mới có thể chạy được. Kích chuột phải vào My Computer, chọn Properties, chọn thẻ Advanced>Performance >Settings, lại chọn thẻ Advanced, mục Virtual memory chọn Change và nhập vào mục Initial Size (với ổ 40GB) là 400 (số lượng bộ nhớ đệm mà khá nhiều game hiện nay yêu cầu ), là 300 đối với ổ 20GB, mục Maximum size nhập một số lớn hơn số trên tùy bạn. Nhấn Set và kích OK.
Xoá rác máy tính và xóa bớt font
Đây là một bước quan trọng giúp tăng tốc khởi động máy tính. Một số chương trình giúp dọn dẹp máy tính một cách tích cực nhưng hiệu quả không cao bằng việc chúng ta làm thủ công bằng tay. Hãy vào thư mục Windows của hệ điều hành và xoá các folder Drive Cache, LastGoodKnown, vào xoá các tệp trong thư mục Downloaded Installations, Prefetch, RegisteredPackeges, Repair, trong C:/Windows/System32 có Reinstall Backup, Dll Cache. Nên nhớ càng nhiều font hệ điều hành khởi động càng chậm đi, hãy để lại những font chữ cần thiết và xoá bớt những font chữ mà bạn ít sử dụng hay chưa bao giờ đụng đến.
Tắt bớt các dịch vụ khi khởi động máy tính
Các dịch vụ giúp ích ta rất nhiều trong các tình huống cần thiết, ngoài ra nó hoàn toàn vô dụng và tiêu tốn thời gian khởi động máy tính của bạn. Nếu máy bạn không có kết nối Internet hãy kích chuột phải vào My Computer chọn Manager, chọn mục Services and Applications >Services và chọn Disable các mục sau: Alert, Automatic Update, Computer Browser, DHCP Client, Help and Support, Human Interface Device Access, Messenger, Print Spooler, Routing and Remote Access, Server, Telephony, Telnet còn với các kết nối hãy trừ ra các khóa DHCP Client, Messenger, Telephony, Telnet
Alerter: Dịch vụ này giúp thông báo cho các máy tính và người dùng được chọn những sự cảnh báo mang tính chất hành chính. Bạn để nó nếu bạn cảm thấy nó cần thiết với bạn. Nếu không thì hãy tắt nó đi.
Application Layer Gateway : Cần thiết nếu bạn muốn dùng Firewall trong Windows ( Internet Connection Firewall ) hoặc Chia sẻ thông tin mạng của Windows ( Windows Internet Connection Sharing ). Sẽ rất vô dụng nếu như bạn không dùng 2 ứng dụng trên.
Application Management : Bạn không dùng chung 1 mạng với ai đó ? Bạn không không có ý định điều khiển 1 trình nào đó thông qua mạng ? Nếu không hãy vô tư mà Disable nó.
Automatic Updates : Bạn muốn máy tự động cập nhật Windows. 1 số trường hợp quay số kết nối để cập nhật mà chủ nhân không biết. Trả tiền cước hàng triệu đồng... Nếu cập nhật mà không mấy hiệu quả thì không cần cập nhật, ngọai trừ các lổ hổng bảo mật lớn thì tự vào website microsoft cập nhật thôi.
Background Intelligent Transfer : Hỗ trợ Windows Update, nếu bạn tắt Automatic Update ở trên thì vô hiệu hóa dịch vụ này nhằm giảm sức nặng hệ thống phần nào.
Clipbook : Cho phép bạn xem những gì lưu trữ trong Clipboard, sắp xếp chúng có trật tự để có thể thi hành tác vụ những gì trong Clipbard. Bạn có thể không cần làm quan trọng mọi việc đến như vậy. Tắt nó đi sẽ giúp các lệnh Copy-Paste-Cut nhanh hơn. Bạn có thể xem nó họat động như thế nào qua cách đánh clipbrd.exe vào lệnh Run trong Start Menu.
COM+ : Cả hai Event System và System Application Services giúp quản lý và nắm quyền Microsoft's Compoment Object Model. Nếu như bạn cần tìm hiểu về vấn đề này, chỉ Microsoft mới có câu trả lời tốt nhất tuy là bằng tiếng anh www.microsoft.com/com/tech/complus.asp. Nói chung, có thể một phần mềm nào đó sẽ cần đến dịch vụ này để chạy, tốt nhất bạn thiết lập nó ở chế độ Manual
Computer Browser : Không hề liên quan gì đến trình duyệt web thân yêu của bạn. Ý nghĩa dịch vụ này là theo dõi những hệ thống khác kết nối vào máy bạn qua 1 mạng chia sẻ. ...Quyết định tùy bạn
Cryptographic services: Dịch vụ chứng nhận - đánh giá trong WinXP. Cho dù bạn cảm thấy không cần thiết với nó, nhưng khuyên bạn nên để nó chạy vì vài tính năng khác của nó khá hữu ích như kiểm tra chứng nhận trình điều khiển các thiết bị của winxp.
DHCP Client: Khi bạn lên mạng hoặc không, dịch vụ này sẽ lấy 1 địa chỉ IP cho bạn. Bạn có thể thử tắt nó. Nhưng nếu bạn bắt đầu gặp những vấn đề lỗi, hiệu hóa nó lại. (Ý kiền cá nhân: Nên tắt nó đi nếu bạn không dùng mạng hoặc bạn dùng mạng nhưng lại đặt IP tĩnh.)
Distributed Link Tracking Client : Quản lý các Shortcut đến tập tin trên Server nào đó . Nếu bạn đã vô hiệu hóa 2 dịch vụ trên thì cũng nên bỏ luôn cái này.
DNS Client: Dịch vụ này giải đáp và thiết lập một bộ đệm về tên miền để hỗ trợ cho máy tính bạn đang sử dụng. Nếu bạn không sử dụng Internet thì nên tắt dịch vụ này đi.
Error Reporting : Tự động thông báo lỗi có thể là 1 tính năng khá tốt nhưng đôi khi lại quá làm phiền và vô dụng.
Event Log : Bỏ. Nhiệm vụ của nó chỉ là ghi lại những báo cáo đôi khi khó hiểu. (Ý kiền cá nhân: Không nên tắt dịch vụ này vì nếu tắt không những không làm cho máy khởi động nhanh hơn mà còn làm cho máy khởi động cực chầm.)
Fast User Switching Compatibility : Nếu bạn không dùng máy chung với nhiều người thì vô hiệu hóa cái này tăng năng lực cho máy rất nhiều.
Help and Support : Sự trợ giúp là 1 điều quý báu nhất là khi ta gặp khó khăn. Nhưng nếu bạn không rành Tiếng anh và không biết nó nói cái gì.... vậy thì nên tắt nó đi thì hơn.
HTTP SSL: Kết nối từ client đến server được thực hiện bằng giao thức HTTPS (HTTP + SSL). Chỉ sử dụng dịch vụ này khi bạn chạy Web Server.
Human Interface Device Access Service: Mở rộng và điều khiển những phím nóng trên các thiết bị nhập. Ví dụ những nút bấm trên bàn phím Play-Next-Internet-Search. Nếu bạn không thường dùng nó, tắt dịch vụ này đi và tận hưởng 0.85% hệ thống nhanh hơn.
IIS Admin: Cho phép bạn quản lý dịch vụ Web và FTP thông qua dịch vụ Internet Information Services (IIS). Nếu bạn không dùng đến những dịch vụ trên thì hãy tắt nó.
IMAPI CD-Burning COM Service : Thật sự ra dùng Nero ghi đĩa trực quan hơn dịch vụ có sẵn trong WinXP này.
Indexing services: Tự động tra sóat thông tin trên ổ cứng nhằm giúp các ứng dụng như Search của windows, Office XP chạy nhanh hơn. Tuy nhiên nó chiếm nhiều tài nguyên và thật sự không xứng đáng với tính năng nó họat động.
IPSEC services: Nếu như máy tính của bạn thuộc vào lọai viễn thông và kết nối với máy khác bởi VPN thì Internet Protocol Security ( IPSEC ) có thể cần thiết. Tuy nhiên tôi không dám mơ tưởng máy mình dữ dội đến vậy. Tạm thời tắt nó đi.
Logical Disk Manager : Nếu như bạn muốn quản lý đĩa cứng của mình ( bấm phải trên biểu tượng My Computer, chọn Manage rồi đến Disk Management ), thì dịch vụ này không thể bị vô hiệu hóa. Vì trình Disk Management phụ thuộc dịch vụ này để chạy. Tuy nhiên, có lẽ bạn không sài đến thường xuyên Disk Management , thiết lập nó sang Manual sẽ là tốt nhất.
Messenger: Vào năm trước , những kẻ Spammer đã nhận ra 1 cách có thể gửi hàng triệu Spam đến người dùng WinXP thông qua Messenger này. Lọai bỏ dịch vụ này là lựa chọn sáng suốt
MS Software Shadow Copy Provider/Volume Shadow Copy: Hỗ trợ Microsoft Backup hay các trình sao lưu ảnh đĩa khác. Một lần nữa, bạn có thể thử qua việc tắt nó, nếu có sai sót nào trong việc sao lưu thì khởi động lại nó sẽ giải quyết vấn đề.
Net Logon: Hỗ trợ việc chứng thực để đăng nhập vào một máy tình thuộc miền.
NetMeeting Remote Desktop Sharing : Không muốn chia sẻ với ai bất cứ cái gì trên máy bạn thông qua NetMeeting ? Không = Disable
Network Connections: Quản lý những đối tượng trong kết nối mạng và kết nối mạng quay số, trong đó bạn có thể thấy được cả mạng cục bộ và những kết nối từ xa.
Network DDE: Cung cấp việc truyền tải và an toàn mạng cho sự trao đổi dữ liệu động (Dynamic Data Exchange(DDE)). Cho những chương trình chạy trên cùng một máy tính hoặc trên những máy tính khác nhau.
Network Location Awareness (NLA): Tập hợp và lưu trữ thông tin về cấu hình và vị trí mạng. Đưa ra thông báo khi những thông tin này thay đổi.
Network Provisioning Service: Quản lý cấu hình của file XML trên một miền cơ sở cho mạng được cung cấp tự động. (XML được thiết kế để thực hiện lưu trữ dữ liệu và phát hành trên các Web site không chỉ dễ dàng quản lý hơn, mà còn có thể trình bày đẹp mắt hơn. XML cho phép những người phát triển Web định nghĩa nội dung của các tài liệu bằng cách tạo đuôi mở rộng theo ý người sử dụng)
Plug and Play : Bạn cần dịch vụ này để nhận biết các thiết bị mới gắn vào Pc, bên trong hay bên ngòai, PCI hay USB, Fire wire đều sẽ cần đến nó, hay chỉ đơn giản là WinXP cần giao tiếp tìm kiếm lại phần cứng nào đó trong 1 số lý do.
Print Spooler: Nếu bạn không dùng máy in thì hãy tắt nó đi thì hơn.
Remote Desktop Help Session Manager : Đừng để ai đó điều khiển máy bạn nếu bạn không muốn bị vậy
Remote Procedure Call : Trong winXP, các ứng dụng được phân chia trong công thức Cá thể tiến trình. Không 1 trình nào ảnh hưởng đến trình nào. Khi 1 phần mềm bị đứng, treo hay không trả lời, nó sẽ không ảnh hưởng đến tòan bộ máy như Win98. Để quản lý hết tất cả những phần mềm này 1 cách thuận tiện, RPC là dịch vụ cần thiết sắp xếp phân vùng bộ nhớ phát cho từng ứng dụng. Nếu tắt nó sẽ gây ra lỗi hệ thống rất nghiêm trọng. Vì vậy bạn đừng làm điều đó.
Remote Registry Service : Bạn có thích cho người dùng khác trên 1 mạng máy tính thay đỗi các thiết lập trong Registry, trái tim của hệ điều hành trên máy bạn ? Bạn sẽ không tìm ra được nguyên nhiên ngày nào đó WinXP bị..vỡ tim đâu. Dịch vụ này là 1 dạng của sự bất bảo mật cho máy.
Security Accounts Manager: Dịch vụ Lưu trữ những thông tin bảo mật cho tài khoản của người dùng tại chỗ.
Security Center: Theo dõi và quản lý những thiết lập và những cấu hình an toàn của hệ thống
Server: Hỗ trợ file, máy in và tên dùng để chia sẻ thông tin qua mạng cho máy tính bạn đang sử dụng. Nếu bạn không dùng chung mạng với ai đó thì nên tắt nó đi.
Smart Card và Smart Card Helper : Nếu bạn không dùng các thẻ nhớ thì bạn biết phải làm gì với dịch vụ này.
SSDP Discovery : một thành phần của Universinal Plug and Play sắp nói đến. Cho dù bạn tắt hay mở nó, bạn cũng sẽ làm cùng chung 1 việc cho SSDP Discovery.
System Restore : Mừng hết lớn khi có thể bay về quá khứ trước khi bạn cài đặt 1 driver lỗi hay phần mềm làm hại hệ thống là ví dụ thực tiễn cho bạn gợi ý nên tắt ứng dụng này hay không. Tuy nhiên vô hiệu hóa nó sẽ tiết kiệm cho bạn rất nhiều dung lượng đĩa. Lưu ý là nếu bạn đã chọn tắt nó thì tất cả những thiết lập sao lưu sẽ bị xóa hết.
Task scheduler : Đôi khi không mấy hữu dụng đối với bạn, Có thể bạn sẽ không cần phải lập lịch dồn đĩa trong đêm, nhưng Task Scheduler có thể cần thiết với và người khác. Tắt nó hay không tùy vào yêu cầu của bạn có cần hoặc không.
TCP/IP NetBIOS Helper : Là 1 đòi hỏi bình thường nếu hệ thống mạng nội bộ của bạn dùng NetBIOS bởi TCP/IP. Tắt nó nếu bạn cảm thấy không cần thiết. Tuy nhiên khởi động lại nếu như mạng nội bộ của bạn ( thậm chí mạng Internet ) có trục trặc liên quan đến việc tắt dịch vụ này.
Telephony : Bạn vô cùng cần - nói cách khác không thể thiếu nó nếu bạn muốn vào Internet thông qua phương thức quay số = Modem. Nhưng nếu là kết nối ADSL, bạn thử thiết lập nó qua Manual để xem nếu có lỗi nào xảy ra vì có thể nó vẫn đòi hỏi dịch vụ này. Nếu không bạn đã giúp máy có thể tài nguyên hệ thống khá là không ít...
Telnet : Cho phép người dùng máy khác dang nhập vào máy bạn và chạy các chương trình. Nếu như bạn có bao giờ nghe đến việc tấn công qua IP thì Telnet là 1 trong những kẻ 2 mặt tiếp tay cho giặc quậy phá thành của bạn. Tắt nó đi, trừ khi bạn cần nó cho 1 lý do nào đó
Uninterruptible Power Supply : An tòan để vô hiệu hóa. Trừ khi bạn có cục UPS cho máy tính mình. Universinal Plug and Play : Tự hỏi bạn có muốn máy mình kiểm tra và tìm hiểu các thiết bị có trên máy người khác trong 1 mạng máy tính nội bộ ? Có thể nó cần thiết nếu như bạn xài Internet Connection Sharing và cho phép người ngòai hiệu chỉnh kết nối cho máy bạn. Dù sao đi nữa, nếu như thật sự không biết gì, bạn có thể tắt nó cũng được.
Webclient : Theo sự mô tả, dịch vụ này cho phép bạn duyệt qua "Network Places" , thực chất đó là mạng Internet. Nó cho phép các chương trình Windows tạo, xâm nhập và thiết lập tập tin trên nền Internet. Theo như 1 số thử nghiệm, nếu như bạn không có kết nối Internet, dịch vụ có thể làm chậm lại máy và cách bạn duyệt web. Vô hiệu hóa để nhận ra và xem xét những sai sót có thể gây phiền cho bạn, nếu không thì bạn đã tiếp tục giảm gánh nặng cho hệ thống.
Windows Audio: Bạn muốn nghe tiếng - âm thanh thỏ thẻ của Pc phát ra từ 2 giàn loa 480 Watts của bạn thì nên để cho dịch vụ này khởi động bình thường. Đối với nó, bạn chỉ nên vô hiệu hóa khi máy không có sound card hoặc chip sound trên bo mạch.
Windows Image Acquisition : Nếu như đơn giản là bạn không có Webcam hay máy Scan hình thì tắt dịch vụ này đi. Tuy nhiên cho dù bạn có, tắt ứng dụng này chắc cũng không ảnh hưởng, vì vậy hãy tắt nó đi cũng được. ( Hay thay nó thành Manual để thử nghiệm trước khi bạn thật sự tắt nó .
Windows Installer : Trợ giúp cho các trình cài đặt .MSI có thể phân phối dữ liệu trong nó cho máy bạn. Nhưng thật chất không phải lúc nào bạn cũng cài-cài-cài phần mềm vào máy mình liên tục. Thay cách khởi động của nó vào Manual sẽ giảm tối thiếu dung lượng Ram bị chiếm.
Windows Management Instrumentation : Dịch vụ này cho phép sự giao tiếp các phần mềm có thể xâm nhập và dùng những tính năng trong Windows có thể diễn ra trọn vẹn. Bản thân windows cũng dùng đến Windows Management Instrumentation, như những trình khác làm, tốt nhất bạn để nó họat động.
Windows Time : Đồng ý là thời gian là vàng là bạc là hàng lọat thứ một đi không quay lại. Nhưng nếu như bạn không muốn Windows phải chú trọng đến điều đó cho bạn, nếu như bạn không cp1 1 máy tính luôn kết nối mạng thì không đồng bộ hóa giờ giấc không có nghĩa là bạn có tội.
Wireless Zero Configuration : Bạn dùng mạng không dây? Nếu không, nên vô hiệu tính năng này.
WMI Performance Adapter : Windows Management Instumentation ( WMI ) là 1 ứng dụng rất có ích nhưng nó có thể làm chậm máy.Nếu như bạn không phải là 1 nhà thiết kế chương trình thì không cần quan tâm đến việc này. Ngòai ra bây giờ bạn có thể tắt nó đi.
Và cuối cùng ta dùng phần mềm sau để để dọn máy
Max Registry Cleane
Tải tại đây: http://www.mediafire.com/?2uvisfydex0
Nguồn : hok rõ lun, mấy 4rum đó cop wa cop lại riết rồi hổng pik của ai
Alert : topic không bảo hành
P/s : có trùng thì del hộ em
Mặc định Windows sẽ tự mình điều khiển các thiết lập về tốc độ xử lý của hệ thống sao cho phù hợp, nhưng đôi khi Windows lại “lạm dụng” điều này ưu tiên xử lý cho các công việc không cần thiết, gây lãng phí tài nguyên hệ thống. Do vậy để hệ thống dành nhiều tài nguyên hơn cho các công việc cụ thể, bạn hãy thay đổi lại như sau:
Bấm chuột phải vào My Computer rồi chọn Properties (hoặc đơn giản nhấn phím Window+Break), tiếp theo chọn thẻ Advanced, bấm nút Settings trong khung Performance, chọn thẻ Visual Effects, chọn nút Adjust for best performance. Sau đó, trong khung danh sách các thiết lập bên dưới, cuộn xuống và đánh dấu hộp Use visual styles on windows and buttons rồi bấm OK hai lần để đóng lại các cửa sổ.
2- Tối ưu bộ nhớ hệ thống:
Việc tinh chỉnh này sẽ tạo cho “nhân” của Windows chạy trong bộ nhớ để tăng tốc hệ thống, đưa các dữ liệu vào bộ nhớ để xử lý nhanh hơn (thay vì xử lý từ bộ nhớ ảo trên đĩa cứng). Lưu ý: để chỉnh sửa các thiết lập này yêu cầu máy tính có RAM tối thiểu là 256MB. Cách thực hiện như sau:
Bấm Start > Run > gõ regedit > OK hoặc Enter. Sau đó tìm đến khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Session Manager\Memory Management. Trong cửa sổ bên phải, bấm kép mục DisablePagingExecutive và thay đổi lại giá trị là 1, tiếp theo bấm kép mục LargeSystemCache và cũng thay đổi lại giá trị là 1.
Kế tiếp, tại khoá này bạn tạo mục mới kiểu DWORD tên là IOPageLockLimit (bấm chuột phải vào một vùng trống, chọn New > DWORD Value) và đặt giá trị của nó như sau: nếu máy tính của bạn có RAM là128MB thì đặt giá trị là 4000, 256MB thì đặt 10000, từ 512MB trở lên thì đặt 40000.
Tiếp theo, bạn tìm đến khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer, tạo một mục mới loại DWORD tên là AlwaysUnloadDLL và đặt giá trị là 1. Cuối cùng, đóng cửa sổ Registry Editor lại.
Kế tiếp, bạn cũng bấm lại Start > Run > gõ msconfig > OK, chọn thẻ SYSTEM.INI, bấm phần [386enh], bấm nút New và thêm mục mới "ConservativeSwapfileUsage=1" (không có dấu nháy kép), xong bấm OK. Nếu có hộp thông báo yêu cầu khởi động lại máy thì bạn bấm nút Exit Without Restart.
3- Tăng tốc xử lý tập tin:
Trước khi chỉnh sửa thiết lập này, bạn hãy kiểm tra lại hệ thống tập tin trên máy bằng cách vào My Computer, bấm chuột phải vào ổ đĩa C, chọn Properties. Trong thẻ General và ở dòng File system, nếu để chữ FAT32 thì bạn hãy bỏ qua bước này, ngược lại là chữ NTFS thì có thể chỉnh sửa cho thiết lập này như sau: Vào trình Registry Editor, tìm đến khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\FileSystem, thay đổi lại giá trị của mục DisableNTFSLastAccessUpdate là 1. Tiếp theo cũng tại khoá này, bạn tạo mục mới loại DWORD tên là NtfsMftZoneReservation và đặt giá trị của nó là 2.
4- Điều chỉnh chức năng Prefetch của Windows:
Chức năng này cho phép Windows tăng tốc chạy các ứng dụng, giảm thời gian khởi động máy hoặc cả hai. Mặc định Windows chọn giảm thời gian khởi động máy, nhưng bạn hãy thay đổi lại thiết lập này cho tối ưu hơn. Vào trình Registry Editor, tìm khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Session Manager\Memory Management\PrefetchParameters, thay đổi lại giá trị của mục EnablePrefetcher là 3.
5- Tăng tốc kết nối Internet lên 20%:
Mặc định Windows sẽ giới hạn lượng băng thông kết nối là 20%, nhưng bạn có thể bỏ giới hạn này để đạt được tốc độ kết nối tối ưu hơn. Bấm Start > Run > gõ gpedit.msc > OK, tìm theo đường dẫn Local Computer Policy\Computer Configuration\Administrative Templates\Network\QoS Packet Scheduler, bấm kép thiết lập Limit reservable bandwidth trong cửa sổ phải, chọn nút Enable, gõ số không (0) vào hộp Bandwidth limit, bấm OK rồi đóng cửa sổ Group Policy lại.
Tiếp theo bạn hãy vào phần thiết lập mạng bằng cách bấm Start > Settings > Network Connections, bấm chuột phải vào kết nối mạng của bạn và chọn Properties (hoặc bấm biểu tượng kết nối mạng ở khay hệ thống nếu nó hiện ra, bấm nút Properties), trong thẻ General đánh dấu giao thức QoS Packet Scheduler (nếu nó chưa được đánh dấu) rồi bấm OK.
Các thiết lập ở bước này tuy dành cho những loại hình kết nối tốc độ cao (như ADSL), nhưng qua thử nghiệm với loại kết nối Dial-up, kết quả đáng kinh ngạc, tốc độ lướt web tăng lên thật đáng kể.
Sau khi hoàn thành 5 bước trên, bạn hãy khởi động lại máy tính để cảm nhận sự khác biệt của hệ thống.
Các bước đơn giản để tăng tốc độ Windows Vista
Chỉ bằng một số thao tác nhanh gọn, người sử dụng có thể tạo nên sự khác biệt lớn về hiệu suất hoạt động của hệ thống chạy trên hệ điều hành mới của Microsoft.
Tắt Windows Search Indexing
Search Indexing thường xuyên duyệt file trên hệ thống nhằm hiển thị nhanh nội dung mỗi khi người sử dụng gõ lệnh tìm kiếm.
- Bấm Start -> Computer
- Nhấn chuột phải vào ổ C
- Tìm General Tab, bỏ mục Index this drive for faster searching
- Khi hộp hội thoại xuất hiện, chọn Include subfolders and files
Tắt Remote Differential Compression
Remote Differential Compression đánh giá các file trong mạng để có thể truyền chúng với băng thông nhỏ nhất. Việc liên tục kiểm tra sự thay đổi của file khiến hiệu suất hệ thống giảm đáng kể.
- Mở Control Panel
- Chuyển sang Classic View
- Chọn Program Features
- Chọn Turn Windows features on and off
- Tìm và bỏ dấu tích Remote Differential Compression
Tắt Automatic Windows Defender Operation
Đây là chế độ bảo vệ máy tính trước các phần mềm nguy hiểm theo thời gian thực của Windows.
- Mở Control Panel
- Chọn Windows Defender -> Tools
- Chọn Options
- Bỏ dấu tích Auto Start ở cuối cửa sổ
Tắt Automatic Disk Defragmentation
Tính năng giảm phân tán dữ liệu (defragment) hoạt động liên tục là điều không cần thiết và chỉ làm hệ thống ì ạch hơn. Người sử dụng chỉ cần nhớ thực hiện thao tác này hàng tuần hoặc hàng tháng là ổn.
- Bấm Start -> Computer
- Nhấn chuột vào ổ C
- Chọn Tools Tab
- Bỏ dấu tích ở ô Run on a schedule
Thêm ổ USB 2 GB để tận dụng Windows Ready Boost
Ready Boost là thuật ngữ mà Microsoft đặt cho việc sử dụng ổ USB như một bộ nhớ truy cập nhanh để hệ điều hành dùng thay thế RAM.
- Cắm ổ USB/flash
- Bấm Start -> Computer
- Bấm chuột phải vào USB Drive trong My Computer
- Chọn Ready Boost Tab
- Chọn Use this device
Tắt Windows Hibernation
Tính năng này tiêu tốn khá nhiều tài nguyên hệ thống. Nếu không thường xuyên sử dụng, bạn nên tắt nó.
- Chọn Control Panel -> Power Options
- Bấm vào Change Plan Settings
- Bấm Change Advanced Power Settings
- Mở Sleep selection -> Hibernate After selection
- Giảm thông số xuống 0
- Bấm Apply
Tắt System Restore
Người sử dụng cần cân nhắc khi gỡ bỏ bởi System Restore có nhiệm vụ phân tích và khôi phục hệ thống mỗi khi có trục trặc.
- Mở Control Panel -> System
- Bấm System Protection ở bảng bên trái
- Bỏ dấu tích Main system drive
Tắt User Access Control (UAC)
Tính năng mới của Windows Vista không ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất nhưng gây khó chịu bởi nó yêu cầu người sử dụng xác thực quyền truy cập mỗi ngày.
- Bấm Start -> Control Panel
- Chọn User Accounts
- Chọn Turn User Account Control on/off
- Bỏ dấu tích User Account Control Box
- Khởi động lại hệ thống
Windows Vista: Tắt các tính năng không cần thiết
Gỡ bỏ các tính năng không cần thiết.
Các phiên bản cao cấp của Windows Vista như Enterprise, Business Edition được tích hợp rất nhiều tính năng. Nhưng đôi khi chúng lại không cần thiết và làm cho máy hoạt động "ì ạch". Cách tốt nhất là tắt chúng đi để hệ thống không hao tổn tài nguyên.
Bạn có thể tắt hoặc gỡ bỏ hẳn bằng chấn lên nút Start, chọn Control Panel. Trong "Programs" nhấn "Uninstall a program".
Bên trình đơn, nhấn "Turn Windows features on or off". Cuộn danh sách các ứng dụng, tính năng được xổ ra và bỏ dấu chọn các ứng dụng hay tính năng nào bạn không muốn sử dụng. Ví dụ: bỏ chọn Windows Fax and Scan khi bạn không bao giờ dùng đến 2 chức năng Fax và scan này. Nhấn OK để hoàn tất việc thay đổi thiết lập.
Thay đổi vị trí mặc định của Windows Explorer
Bạn muốn tự mình đặt vị trí mặc định mà Windows Explorer sẽ mở thay cho thư mục Documents của tài khoản hiện hành, chọn shortcut của Windows Explorer, phải chuột lên nó và thay thế bằng những đoạn mã tùy chọn bên dưới đây:
- Điểm sáng cho "Computer" ở menu bên trái với tất cả các ổ đĩa được hiển thị nhưng không mở rộng và ổ C được chọn ở menu phải: %SystemRoot%\explorer.exe /e,/select,c:
- Desktop được chọn và không có gì khác được mở rộng: %SystemRoot%\explorer.exe /e,/n,/select,/root,c:
- Tất cả ổ đĩa được hiển thị và ổ đĩa (partition) hệ thống được mở rộng trong một giao diện nhỏ: %SystemRoot%\explorer.exe /e,/select,%systemroot%
- Chỉ có Windows Directory được hiển thị và mở rộng: %SystemRoot%\explorer.exe /e,/root,%systemroot%
- Tất cả ổ đĩa được hiển thị nhưng chỉ có ổ C là được chọn và mở rộng: %SystemRoot%\explorer.exe /e,c:
Hiển thị các tập tin "siêu" ẩn
Trong Windows Vista có nhiều tập tin hệ thống thuộc dạng "siêu" ẩn mặc dù bạn đã mở chế độ xem các tập tin ẩn trong Windows Explorer. Để xem được các tập tin này yêu cầu bạn phải "vọc" tới registry. Do đó, bạn cần sao lưu lại registry trước khi "đụng chạm" tới những phần nhạy cảm của Windows.
Gõ regedit trong hộp thoại Search, rồi tìm đến khóa: HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\Advanced . Trong khóa này có 1 khóa phụ là "SuperHidden", ta thiết lập lại giá trị của nó là "1" thì sẽ thấy được các tập tin "siêu ẩn" với Windows Explorer.
Tự động đăng nhập tài khoản
Nếu máy tính chỉ được sử dụng bởi một người thì ta có thể thiết lập cho tự động đăng nhập để tránh mất thời gian nhập tên tài khoản và mật khẩu. Các thao tác như sau:
- Chọn nút (quả cầu) Start, gõ "netplwiz" vào hộp thoại Search và chọn "netplwiz".
- Khung "Advanced User Accounts" xuất hiện, chọn thẻ Users.
- Bỏ chọn ở phần "Users must enter a user name and password to use this computer". Nhấn "Apply" để thực thi.
- Khi hộp thoại "Automatically Log On" mở ra, bạn cần nhập vào mật khẩu trong các phần yêu cầu (nhập cẩn thận để nhập 2 mật khẩu trùng nhau). Nhấn OK để hoàn tất.
Giờ bạn có thể khởi động lại hệ thống để thử nghiệm thiết lập vừa thay đổi.
Chip xin bổ xung thêm
Chỉnh sửa Registry Editor
Để tốc độ máy tăng lên chúng ta phải có một số tinh chỉnh trong bộ nhân của Windows, kích Start>Run, đánh regedit để kích hoạt Registry Editor. Chọn nhánh HKEY_CURRENT_USER >Control Panel>Desktop.
-AutoEndTask: Kích đúp và nhập số 1, mục đích là tự động tắt các dịch vụi treo nhanh chóng hơn.
-MenuShowDelay: Kích đúp và nhập số 0, mục đích để thanh Start hiện nhanh hơn.
-HungAppTimeout, WaitToKillAppTimeOut: kích đúp nhập giá trị 200 để giảm thời gian chờ đợi.
-Kích New>String Value: Nhấn F2 để đặt tên cho khoá này là WaitToKillServiceTimeout, nhấn đúp nhập giá trị 200.
Chọn nhánh HKEY_LOCAL_MACHINE>System>CurrentControlSet>Control: Kích đúp thẻ HungAppTimeout, nhập giá trị mới là 200.
Như vậy thời gian tắt máy của bạn sẽ nhanh hơn trước ít nhất là gấp đôi đấy.
Tăng cường bộ nhớ đệm
Đây là giải pháp nhằm tăng lượng bộ nhớ ảo giúp máy tính “dễ thở “ hơn khi lượng RAM đã cạn kiệt và cũng là điều kiện để một số game mới có thể chạy được. Kích chuột phải vào My Computer, chọn Properties, chọn thẻ Advanced>Performance >Settings, lại chọn thẻ Advanced, mục Virtual memory chọn Change và nhập vào mục Initial Size (với ổ 40GB) là 400 (số lượng bộ nhớ đệm mà khá nhiều game hiện nay yêu cầu ), là 300 đối với ổ 20GB, mục Maximum size nhập một số lớn hơn số trên tùy bạn. Nhấn Set và kích OK.
Xoá rác máy tính và xóa bớt font
Đây là một bước quan trọng giúp tăng tốc khởi động máy tính. Một số chương trình giúp dọn dẹp máy tính một cách tích cực nhưng hiệu quả không cao bằng việc chúng ta làm thủ công bằng tay. Hãy vào thư mục Windows của hệ điều hành và xoá các folder Drive Cache, LastGoodKnown, vào xoá các tệp trong thư mục Downloaded Installations, Prefetch, RegisteredPackeges, Repair, trong C:/Windows/System32 có Reinstall Backup, Dll Cache. Nên nhớ càng nhiều font hệ điều hành khởi động càng chậm đi, hãy để lại những font chữ cần thiết và xoá bớt những font chữ mà bạn ít sử dụng hay chưa bao giờ đụng đến.
Tắt bớt các dịch vụ khi khởi động máy tính
Các dịch vụ giúp ích ta rất nhiều trong các tình huống cần thiết, ngoài ra nó hoàn toàn vô dụng và tiêu tốn thời gian khởi động máy tính của bạn. Nếu máy bạn không có kết nối Internet hãy kích chuột phải vào My Computer chọn Manager, chọn mục Services and Applications >Services và chọn Disable các mục sau: Alert, Automatic Update, Computer Browser, DHCP Client, Help and Support, Human Interface Device Access, Messenger, Print Spooler, Routing and Remote Access, Server, Telephony, Telnet còn với các kết nối hãy trừ ra các khóa DHCP Client, Messenger, Telephony, Telnet
Alerter: Dịch vụ này giúp thông báo cho các máy tính và người dùng được chọn những sự cảnh báo mang tính chất hành chính. Bạn để nó nếu bạn cảm thấy nó cần thiết với bạn. Nếu không thì hãy tắt nó đi.
Application Layer Gateway : Cần thiết nếu bạn muốn dùng Firewall trong Windows ( Internet Connection Firewall ) hoặc Chia sẻ thông tin mạng của Windows ( Windows Internet Connection Sharing ). Sẽ rất vô dụng nếu như bạn không dùng 2 ứng dụng trên.
Application Management : Bạn không dùng chung 1 mạng với ai đó ? Bạn không không có ý định điều khiển 1 trình nào đó thông qua mạng ? Nếu không hãy vô tư mà Disable nó.
Automatic Updates : Bạn muốn máy tự động cập nhật Windows. 1 số trường hợp quay số kết nối để cập nhật mà chủ nhân không biết. Trả tiền cước hàng triệu đồng... Nếu cập nhật mà không mấy hiệu quả thì không cần cập nhật, ngọai trừ các lổ hổng bảo mật lớn thì tự vào website microsoft cập nhật thôi.
Background Intelligent Transfer : Hỗ trợ Windows Update, nếu bạn tắt Automatic Update ở trên thì vô hiệu hóa dịch vụ này nhằm giảm sức nặng hệ thống phần nào.
Clipbook : Cho phép bạn xem những gì lưu trữ trong Clipboard, sắp xếp chúng có trật tự để có thể thi hành tác vụ những gì trong Clipbard. Bạn có thể không cần làm quan trọng mọi việc đến như vậy. Tắt nó đi sẽ giúp các lệnh Copy-Paste-Cut nhanh hơn. Bạn có thể xem nó họat động như thế nào qua cách đánh clipbrd.exe vào lệnh Run trong Start Menu.
COM+ : Cả hai Event System và System Application Services giúp quản lý và nắm quyền Microsoft's Compoment Object Model. Nếu như bạn cần tìm hiểu về vấn đề này, chỉ Microsoft mới có câu trả lời tốt nhất tuy là bằng tiếng anh www.microsoft.com/com/tech/complus.asp. Nói chung, có thể một phần mềm nào đó sẽ cần đến dịch vụ này để chạy, tốt nhất bạn thiết lập nó ở chế độ Manual
Computer Browser : Không hề liên quan gì đến trình duyệt web thân yêu của bạn. Ý nghĩa dịch vụ này là theo dõi những hệ thống khác kết nối vào máy bạn qua 1 mạng chia sẻ. ...Quyết định tùy bạn
Cryptographic services: Dịch vụ chứng nhận - đánh giá trong WinXP. Cho dù bạn cảm thấy không cần thiết với nó, nhưng khuyên bạn nên để nó chạy vì vài tính năng khác của nó khá hữu ích như kiểm tra chứng nhận trình điều khiển các thiết bị của winxp.
DHCP Client: Khi bạn lên mạng hoặc không, dịch vụ này sẽ lấy 1 địa chỉ IP cho bạn. Bạn có thể thử tắt nó. Nhưng nếu bạn bắt đầu gặp những vấn đề lỗi, hiệu hóa nó lại. (Ý kiền cá nhân: Nên tắt nó đi nếu bạn không dùng mạng hoặc bạn dùng mạng nhưng lại đặt IP tĩnh.)
Distributed Link Tracking Client : Quản lý các Shortcut đến tập tin trên Server nào đó . Nếu bạn đã vô hiệu hóa 2 dịch vụ trên thì cũng nên bỏ luôn cái này.
DNS Client: Dịch vụ này giải đáp và thiết lập một bộ đệm về tên miền để hỗ trợ cho máy tính bạn đang sử dụng. Nếu bạn không sử dụng Internet thì nên tắt dịch vụ này đi.
Error Reporting : Tự động thông báo lỗi có thể là 1 tính năng khá tốt nhưng đôi khi lại quá làm phiền và vô dụng.
Event Log : Bỏ. Nhiệm vụ của nó chỉ là ghi lại những báo cáo đôi khi khó hiểu. (Ý kiền cá nhân: Không nên tắt dịch vụ này vì nếu tắt không những không làm cho máy khởi động nhanh hơn mà còn làm cho máy khởi động cực chầm.)
Fast User Switching Compatibility : Nếu bạn không dùng máy chung với nhiều người thì vô hiệu hóa cái này tăng năng lực cho máy rất nhiều.
Help and Support : Sự trợ giúp là 1 điều quý báu nhất là khi ta gặp khó khăn. Nhưng nếu bạn không rành Tiếng anh và không biết nó nói cái gì.... vậy thì nên tắt nó đi thì hơn.
HTTP SSL: Kết nối từ client đến server được thực hiện bằng giao thức HTTPS (HTTP + SSL). Chỉ sử dụng dịch vụ này khi bạn chạy Web Server.
Human Interface Device Access Service: Mở rộng và điều khiển những phím nóng trên các thiết bị nhập. Ví dụ những nút bấm trên bàn phím Play-Next-Internet-Search. Nếu bạn không thường dùng nó, tắt dịch vụ này đi và tận hưởng 0.85% hệ thống nhanh hơn.
IIS Admin: Cho phép bạn quản lý dịch vụ Web và FTP thông qua dịch vụ Internet Information Services (IIS). Nếu bạn không dùng đến những dịch vụ trên thì hãy tắt nó.
IMAPI CD-Burning COM Service : Thật sự ra dùng Nero ghi đĩa trực quan hơn dịch vụ có sẵn trong WinXP này.
Indexing services: Tự động tra sóat thông tin trên ổ cứng nhằm giúp các ứng dụng như Search của windows, Office XP chạy nhanh hơn. Tuy nhiên nó chiếm nhiều tài nguyên và thật sự không xứng đáng với tính năng nó họat động.
IPSEC services: Nếu như máy tính của bạn thuộc vào lọai viễn thông và kết nối với máy khác bởi VPN thì Internet Protocol Security ( IPSEC ) có thể cần thiết. Tuy nhiên tôi không dám mơ tưởng máy mình dữ dội đến vậy. Tạm thời tắt nó đi.
Logical Disk Manager : Nếu như bạn muốn quản lý đĩa cứng của mình ( bấm phải trên biểu tượng My Computer, chọn Manage rồi đến Disk Management ), thì dịch vụ này không thể bị vô hiệu hóa. Vì trình Disk Management phụ thuộc dịch vụ này để chạy. Tuy nhiên, có lẽ bạn không sài đến thường xuyên Disk Management , thiết lập nó sang Manual sẽ là tốt nhất.
Messenger: Vào năm trước , những kẻ Spammer đã nhận ra 1 cách có thể gửi hàng triệu Spam đến người dùng WinXP thông qua Messenger này. Lọai bỏ dịch vụ này là lựa chọn sáng suốt
MS Software Shadow Copy Provider/Volume Shadow Copy: Hỗ trợ Microsoft Backup hay các trình sao lưu ảnh đĩa khác. Một lần nữa, bạn có thể thử qua việc tắt nó, nếu có sai sót nào trong việc sao lưu thì khởi động lại nó sẽ giải quyết vấn đề.
Net Logon: Hỗ trợ việc chứng thực để đăng nhập vào một máy tình thuộc miền.
NetMeeting Remote Desktop Sharing : Không muốn chia sẻ với ai bất cứ cái gì trên máy bạn thông qua NetMeeting ? Không = Disable
Network Connections: Quản lý những đối tượng trong kết nối mạng và kết nối mạng quay số, trong đó bạn có thể thấy được cả mạng cục bộ và những kết nối từ xa.
Network DDE: Cung cấp việc truyền tải và an toàn mạng cho sự trao đổi dữ liệu động (Dynamic Data Exchange(DDE)). Cho những chương trình chạy trên cùng một máy tính hoặc trên những máy tính khác nhau.
Network Location Awareness (NLA): Tập hợp và lưu trữ thông tin về cấu hình và vị trí mạng. Đưa ra thông báo khi những thông tin này thay đổi.
Network Provisioning Service: Quản lý cấu hình của file XML trên một miền cơ sở cho mạng được cung cấp tự động. (XML được thiết kế để thực hiện lưu trữ dữ liệu và phát hành trên các Web site không chỉ dễ dàng quản lý hơn, mà còn có thể trình bày đẹp mắt hơn. XML cho phép những người phát triển Web định nghĩa nội dung của các tài liệu bằng cách tạo đuôi mở rộng theo ý người sử dụng)
Plug and Play : Bạn cần dịch vụ này để nhận biết các thiết bị mới gắn vào Pc, bên trong hay bên ngòai, PCI hay USB, Fire wire đều sẽ cần đến nó, hay chỉ đơn giản là WinXP cần giao tiếp tìm kiếm lại phần cứng nào đó trong 1 số lý do.
Print Spooler: Nếu bạn không dùng máy in thì hãy tắt nó đi thì hơn.
Remote Desktop Help Session Manager : Đừng để ai đó điều khiển máy bạn nếu bạn không muốn bị vậy
Remote Procedure Call : Trong winXP, các ứng dụng được phân chia trong công thức Cá thể tiến trình. Không 1 trình nào ảnh hưởng đến trình nào. Khi 1 phần mềm bị đứng, treo hay không trả lời, nó sẽ không ảnh hưởng đến tòan bộ máy như Win98. Để quản lý hết tất cả những phần mềm này 1 cách thuận tiện, RPC là dịch vụ cần thiết sắp xếp phân vùng bộ nhớ phát cho từng ứng dụng. Nếu tắt nó sẽ gây ra lỗi hệ thống rất nghiêm trọng. Vì vậy bạn đừng làm điều đó.
Remote Registry Service : Bạn có thích cho người dùng khác trên 1 mạng máy tính thay đỗi các thiết lập trong Registry, trái tim của hệ điều hành trên máy bạn ? Bạn sẽ không tìm ra được nguyên nhiên ngày nào đó WinXP bị..vỡ tim đâu. Dịch vụ này là 1 dạng của sự bất bảo mật cho máy.
Security Accounts Manager: Dịch vụ Lưu trữ những thông tin bảo mật cho tài khoản của người dùng tại chỗ.
Security Center: Theo dõi và quản lý những thiết lập và những cấu hình an toàn của hệ thống
Server: Hỗ trợ file, máy in và tên dùng để chia sẻ thông tin qua mạng cho máy tính bạn đang sử dụng. Nếu bạn không dùng chung mạng với ai đó thì nên tắt nó đi.
Smart Card và Smart Card Helper : Nếu bạn không dùng các thẻ nhớ thì bạn biết phải làm gì với dịch vụ này.
SSDP Discovery : một thành phần của Universinal Plug and Play sắp nói đến. Cho dù bạn tắt hay mở nó, bạn cũng sẽ làm cùng chung 1 việc cho SSDP Discovery.
System Restore : Mừng hết lớn khi có thể bay về quá khứ trước khi bạn cài đặt 1 driver lỗi hay phần mềm làm hại hệ thống là ví dụ thực tiễn cho bạn gợi ý nên tắt ứng dụng này hay không. Tuy nhiên vô hiệu hóa nó sẽ tiết kiệm cho bạn rất nhiều dung lượng đĩa. Lưu ý là nếu bạn đã chọn tắt nó thì tất cả những thiết lập sao lưu sẽ bị xóa hết.
Task scheduler : Đôi khi không mấy hữu dụng đối với bạn, Có thể bạn sẽ không cần phải lập lịch dồn đĩa trong đêm, nhưng Task Scheduler có thể cần thiết với và người khác. Tắt nó hay không tùy vào yêu cầu của bạn có cần hoặc không.
TCP/IP NetBIOS Helper : Là 1 đòi hỏi bình thường nếu hệ thống mạng nội bộ của bạn dùng NetBIOS bởi TCP/IP. Tắt nó nếu bạn cảm thấy không cần thiết. Tuy nhiên khởi động lại nếu như mạng nội bộ của bạn ( thậm chí mạng Internet ) có trục trặc liên quan đến việc tắt dịch vụ này.
Telephony : Bạn vô cùng cần - nói cách khác không thể thiếu nó nếu bạn muốn vào Internet thông qua phương thức quay số = Modem. Nhưng nếu là kết nối ADSL, bạn thử thiết lập nó qua Manual để xem nếu có lỗi nào xảy ra vì có thể nó vẫn đòi hỏi dịch vụ này. Nếu không bạn đã giúp máy có thể tài nguyên hệ thống khá là không ít...
Telnet : Cho phép người dùng máy khác dang nhập vào máy bạn và chạy các chương trình. Nếu như bạn có bao giờ nghe đến việc tấn công qua IP thì Telnet là 1 trong những kẻ 2 mặt tiếp tay cho giặc quậy phá thành của bạn. Tắt nó đi, trừ khi bạn cần nó cho 1 lý do nào đó
Uninterruptible Power Supply : An tòan để vô hiệu hóa. Trừ khi bạn có cục UPS cho máy tính mình. Universinal Plug and Play : Tự hỏi bạn có muốn máy mình kiểm tra và tìm hiểu các thiết bị có trên máy người khác trong 1 mạng máy tính nội bộ ? Có thể nó cần thiết nếu như bạn xài Internet Connection Sharing và cho phép người ngòai hiệu chỉnh kết nối cho máy bạn. Dù sao đi nữa, nếu như thật sự không biết gì, bạn có thể tắt nó cũng được.
Webclient : Theo sự mô tả, dịch vụ này cho phép bạn duyệt qua "Network Places" , thực chất đó là mạng Internet. Nó cho phép các chương trình Windows tạo, xâm nhập và thiết lập tập tin trên nền Internet. Theo như 1 số thử nghiệm, nếu như bạn không có kết nối Internet, dịch vụ có thể làm chậm lại máy và cách bạn duyệt web. Vô hiệu hóa để nhận ra và xem xét những sai sót có thể gây phiền cho bạn, nếu không thì bạn đã tiếp tục giảm gánh nặng cho hệ thống.
Windows Audio: Bạn muốn nghe tiếng - âm thanh thỏ thẻ của Pc phát ra từ 2 giàn loa 480 Watts của bạn thì nên để cho dịch vụ này khởi động bình thường. Đối với nó, bạn chỉ nên vô hiệu hóa khi máy không có sound card hoặc chip sound trên bo mạch.
Windows Image Acquisition : Nếu như đơn giản là bạn không có Webcam hay máy Scan hình thì tắt dịch vụ này đi. Tuy nhiên cho dù bạn có, tắt ứng dụng này chắc cũng không ảnh hưởng, vì vậy hãy tắt nó đi cũng được. ( Hay thay nó thành Manual để thử nghiệm trước khi bạn thật sự tắt nó .
Windows Installer : Trợ giúp cho các trình cài đặt .MSI có thể phân phối dữ liệu trong nó cho máy bạn. Nhưng thật chất không phải lúc nào bạn cũng cài-cài-cài phần mềm vào máy mình liên tục. Thay cách khởi động của nó vào Manual sẽ giảm tối thiếu dung lượng Ram bị chiếm.
Windows Management Instrumentation : Dịch vụ này cho phép sự giao tiếp các phần mềm có thể xâm nhập và dùng những tính năng trong Windows có thể diễn ra trọn vẹn. Bản thân windows cũng dùng đến Windows Management Instrumentation, như những trình khác làm, tốt nhất bạn để nó họat động.
Windows Time : Đồng ý là thời gian là vàng là bạc là hàng lọat thứ một đi không quay lại. Nhưng nếu như bạn không muốn Windows phải chú trọng đến điều đó cho bạn, nếu như bạn không cp1 1 máy tính luôn kết nối mạng thì không đồng bộ hóa giờ giấc không có nghĩa là bạn có tội.
Wireless Zero Configuration : Bạn dùng mạng không dây? Nếu không, nên vô hiệu tính năng này.
WMI Performance Adapter : Windows Management Instumentation ( WMI ) là 1 ứng dụng rất có ích nhưng nó có thể làm chậm máy.Nếu như bạn không phải là 1 nhà thiết kế chương trình thì không cần quan tâm đến việc này. Ngòai ra bây giờ bạn có thể tắt nó đi.
Và cuối cùng ta dùng phần mềm sau để để dọn máy
Max Registry Cleane
Tải tại đây: http://www.mediafire.com/?2uvisfydex0
Nguồn : hok rõ lun, mấy 4rum đó cop wa cop lại riết rồi hổng pik của ai
Alert : topic không bảo hành
P/s : có trùng thì del hộ em