70.
Cô gái quay lại.
Như một hồn ma, cô tách xa khỏi dòng sông và ra khỏi khu rừng. Ngoài kia, dưới cơn mưa, mọi phố xá đều giống nhau, đều không một bóng người. trong bóng tối, thiếu nữ chập chờn dẫn tôi tới một thế giới khác.
Đột nhiên cô biến mất: tôi lao lên tìm cô nhưng vô hiệu.
Có một chiếc xe tay nhô ra từ màn mưa mù mịt và chấp nhận kéo tôi về tiệm ăn Chiđôri.
Đại uý Nakamura chờ tôi trong một phòng riêng biệt. Anh mời tôi nâng cốc vì vinh quang của Thiên Hoàng. Sau ba ly rượu sakê và vài miếng cá sống, tôi cúi mình thật thấp trước đại uý:
- Đại uý, tôi không hoàn thành nhiệm vụ anh giao. Xin anh hãy trừng phạt nghiêm khắc.
Một nụ cười dấp dính nơi khoé miệng anh:
- Đại uý, tôi không thể phân biệt được một tay gián điệp với một công dân hiền lành bình thường. Trên quảng trường Thiên Phong, tôi quên mất trách nhiệm của mình, tôi chỉ chơi cờ thôi.
Anh dốc cạn cốc rượu sakê, nhìn thẳng vào mắt tôi nói từng từ tách bạch:
- Trang Tử (1) đã nói: “Mất ngựa, làm sao biết lại chẳng phải là điều hay?”. Một người thông minh không bao giờ phí thời gian của mình.
Rồi anh thêm:
- Trung uý có biết là hồi xưa tôi yêu một cô gái Trung Hoa không?
Tôi đỏ mặt, tại sao lại có chuyện tâm sự thế này nhỉ?
- Tôi sang Trung Quốc cách đây mười lăm năm. Ở Thiên Tân, tôi được nhận vào làm tại một nhà hàng Nhật Bản, ông bà chủ là người Kôbê. Tôi rửa chén đĩa, dọn nhà, chạy việc vặt, được nuôi ăn và cho ở trong một cái phòng nhỏ xíu. Thỉnh thoảng lắm mới có vài phút thảnh thơi, tôi thường ngồi bên cửa sổ. Bên kia đường có một tiệm ăn Tầu nổi tiếng về món bánh nhân thịt. Có một cô gái thường đến nhà từ sáng sớm mang theo thực phẩm và chập tối lại ra khỏi nhà đó tay xách đầy rác. Tôi cận nên chỉ thấy được dáng người thanh thanh và bím tóc dài cô ta buông sau lưng. Cô mặc bộ đồ đỏ, nom như một vệt lửa đi trong phố. Khi cô ta dừng bước, tôi có cảm giác như cô ta ngẩng đầu và nhìn tôi. Vì nhìn không rõ nên tôi cứ nghĩ là thấy cô ta cười và tim tôi đập mạnh.
Đại uý ngừng kể để rót cho tôi một cốc sakê mới và dốc cạn cốc của anh. Mặt anh bắt đầu đỏ phừng phừng.
- Một hôm tôi lấy hết can đảm để vào tiệm ăn kia với cái cớ là đặt một món gì đó. Cô ấy đứng đằng sau quầy hàng. Khi tới gần, tôi nhìn rõ từng nét, từng nét một trên gương mặt cô. Lông mày dầy, mắt đen. Tôi xin mua bánh nhận thịt. Cô không hiểu tiếng Nhật, tôi bèn vẽ chiếc bánh trên một tờ giấy. Cô ấy nghiêng người sau lưng tôi để xem. Tóc cô ấy trượt xuống, sượt qua má tôi.
Lại thêm một chai nữa, là chai thứ năm tôi uống cùng đại uý. Gió đã dịu và trời im tiếng sấm, chỉ còn nghe tiếng mưa rơi đều đều.
- Cô ấy thậm chí còn không biết viết tên mình bằng tiếng Trung Quốc. Chúng tôi chẳng có cách nào nói chuyện được với nhau. Chỉ có mỗi cách nhìn nhau không biết chán.Tôi thì chỉ nhìn thấy màu đỏ của áo và màu bím tóc đen huyền. Tôi tự tưởng tượng ra khuôn mặt của cô ấy, mà tôi chỉ nhìn thoảng thấy được thôi. Hồi đó tôi nghèo lắm và quà của tôi cho cô ấy là những bó hoa dại mọc ven vệ đường. Tôi ném chúng xuống phía dưới cửa sổ của tiệm ăn. Cứ chập tối, cô ấy lại mang cho tôi bánh nhân thịt mới ra lò còn nóng hổi. Tôi cũng không thể nào ăn được những chiếc bánh do tay cô ấy mới nặn ra nên thường giữ chúng cho tới khi chúng hỏng.
Một hôm, cũng như hôm nay này, trời mưa suốt buổi chiều. Nhiều khách hàng trú mưa trong nhà hàng chúng tôi và ăn mì nóng. Quá nửa đêm, tôi ra khỏi nhà bỗng có ai ôm chầm lấy tôi. Chính là cô ấy. Cô ấy run cầm cập và mưa quá nên tôi cũng chẳng biết là cô ấy khóc hay cười nữa. Tôi ôm cô ấy trong tay và ngồi lên bệ tường. Chúng tôi ôm hôn nhau và thì thầm bằng tiếng của mình những lời yêu đương. Tôi quên cả lạnh, cả đêm tối, cũng chẳng để ý thời gian trôi qua.
Đại uý im lặng lúc lâu. Rồi anh nổi giận và lại gọi một chai sakê nữa. Anh rót rượu cho chúng tôi mà tay run. Rượu rơi cả lên áo anh nhưng anh không để ý. Máu chảy rần rật trên thái dương tôi. Tôi lắng nghe câu chuyện của đại uý với sự chăm chú không kiềm chế của một người say. Đại uý đang không biết tìm từ gì cho đúng. Có chuyện gì bi thảm đã xảy ra cho con người cô độc này?
- Ngày hôm sau, tôi mang tất cả tiền dành dụm được và vào một cửa hàng tạp hoá Nhật. Tôi chẳng có đủ tiền để mua một chiếc kimônô, thôi thì một chiếc ôbi (2) cũng được vậy. Món quà đó chính là liều thuốc độc mà tôi đã vô tình rót vào trong ly mật ngọt của mối tình. Quan hệ của chúng tôi chẳng bao lâu bị phát giác. Một tháng sau, cô gái biến mất không để lại dấu vết gì.
Im lặng nặng nề trên bàn rượu của chúng tôi.
- Mãi lâu sau, khi tôi nhập ngũ, tôi tìm cách dò hỏi về số phận cô ấy. Tiệm ăn đã đóng cửa từ lâu. Nhà chủ là những tay do thám, nay đã biến mất không còn tăm tích. Sau khi biết được cô giúp việc đi lại với một người Nhật, chúng đã giết cô ấy…
“Mặt trăng đâu còn nữa,
Mùa xuân không còn là xuân năm xưa!
Chỉ còn lại mình tôi
Vẫn là tôi thủa ấy!” (3)
Anh bật nức nở.
Mai đây chúng tôi sẽ trở thành cát bụi. Nào có ai bận tâm về mối tình của một người lính?
-------------
Chú giải của chương:
(1)Triết gia TQ (360-280 trước CN),người xây dựng nên Đạo giáo
(2) Obi: thắt lưng rộng mặc cùng với áo kimono
(3)Trích đoạn từ chuyện kể Ise Monogatari của vùng Ise, NB, thế kỷ 10, do Rene Sieffert dịch
71.
Tan buổi học, Hương kéo tôi vào góc lớp.
- Tìm được thầy thuốc cho cậu rồi. Đi theo tớ.
- Ai thế? Làm sao cậu biết ông ta?
Nó nhìn quanh. Phòng đã hết người, chỉ còn hai đứa chúng tôi chưa về.
Nó thì thầm vào tai tôi:
- Có nhớ cái bà gác cổng vẫn cho tớ trèo tường không? Hôm qua, tớ bảo mụ ấy là tớ có thai và đang tìm một thầy thuốc.
- Điên à! Nếu mụ ấy bép xép cậu sẽ bị đuổi học và bố cậu sẽ cạo trọc đầu cậu bắt đi tu!
- Đừng lo. Tớ bảo mụ ấy là: “Nếu bà để lộ ra, tôi sẽ tố cào bà với công an về tội môi giới mãi dâm. Tôi sẽ báo với cảnh sát điều tra là bà xúi bẩy nữ sinh bán thân để moi tiền của họ. Thế là bà mất việc mà lại còn bị kết án và treo cổ nơi công cộng nữa đấy.” Tớ doạ mụ ta đến độ mụ vội vàng tìm ra cho tớ một ông lang kín tiếng nhất.
Tôi đi theo Hương về ký túc xá. Nó ăn bận cho tôi thành một thiếu phụ ba mươi tuổi, đấy là theo nó nghĩ.
Xe tay đưa chúng tôi qua chợ trời. Dọc theo hè phố, đầy những đồ gỗ, bát đĩa, vải vóc, đồ tầm tầm, đồ trang sức, các cuộn tranh giấy màu vàng ngà, mốc meo. Những người bán hàng là những quý tộc Mãn Châu hết thời, ăn bận rách rưới, lang thang giữa đống đồ nát này và tìm cách đổi một chiếc tẩu thuốc bằng ngọc thạch, một chiếc bình cổ lấy một hai giờ thoát tục trong khói thuốc phiện. Chỉ có vài sĩ quan Nhật dạo quanh đó và tham lam xem xét các hàng bày bán.
Hương cảnh giác bắt xe tay dừng ở đầu phố. Chúng tôi đi khoảng hai trăm mét rồi lách qua một bậc cổng đã sụt mất một nửa, chúng tôi chen vào trong ngõ đầy những chăn, quần, tã trẻ con đang phơi phấp phới trên dây. Tôi ngửi thấy mùi nước đái khai nồng, mùi trứng thối và gập người xuống nôn.
Cuối hành lang đầy tã là nhiều căn phòng xập xệ sưới mái dốc. Mỗi gia đình đặt bếp lò ngay phía ngoài. Ruồi bay vù vù.
Hương kêu to:
- Ông lang Hoàng Phố ở đâu ạ?
Một bà tóc tai xoã xượi hiện ra trên ngưỡng cửa nhìn chúng tôi vẻ khinh miệt:
- Nhà cuối kia kìa, bên tay phải.
Trên cánh cửa có một tấm biển mực đã nhạt màu:
“Thầy thuốc lừng danh bốn biển, bốc mạch như thần, làm trường xuân bất lão. Chuyên các bệnh: lở loét, giang mai, lậu.”
Chúng tôi gõ cửa. Một bà tóc uốn, mặt dày phấn bước ra, nhìn chúng tôi từ đầu đến chân rồi cồm cộp gót giầy bước đi. Tôi bị Hương đẩy đằng sau, loạng choạng bước vào một căn phòng tối om. Một cô gái nằm còng queo trong một góc, nom như người chết rồi. Cạnh cô ta, một ông đang hút thuốc. Ông ta quan sát chúng tôi:
- Hỏi nhà nào đấy?
Chúng tôi lẩn vào một góc.
Mùi thuốc bắc nồng nặc và nhiều thứ mùi khác làm tôi lảo đảo.
Không biết mất bao lâu mới đến lượt tôi được vào phòng khám. Ông lang Hoàng Phố chỉ còn rất ít sợi tóc bạc và để sau lưng thành một bím nhỏ như cái đuôi lợn. Ông ta ngồi đằng sau một tủ sách lơ thơ vài quyển, vừa vuốt râu vừa hỏi:
- Bệnh nhân nhà ai đấy?
Hương trả lời thay tôi:
- Chúng cháu tự đến ạ.
- Bao nhiêu tuổi?
- Hai mươi ạ, nó đáp.
- Có vấn đề gì?
- Bạn cháu tắt kinh từ ba tuần nay.
- À được, mở miệng ra, thè lưỡi ra. Được, được, cởi váy ra.
- Cởi váy ra kìa, ông ta nhắc lại.
Hương quay mặt đi. Tôi ghét tôi làm sao. Nước mắt lưng tròng, tôi cởi cúc váy.
- Nằm xuống chỗ kia.
Ông ta chỉ cho tôi một tấm phản phủ tấm ga trải giường bẩn.
- Dạng chân ra.
Tôi nghĩ mình chắc chết mất. Tôi siết hai nắm tay để khỏi khóc. Tay cầm đèn, ông già tiến lại.
Ông ta nhìn, sờ nắn, rất từ từ.
- Được, được, ông ta vừa nói vừa đứng dậy. Không có biểu hiện thối thịt. Mặc áo vào.
Ông ta bảo tôi kê tay phải lên bàn và đặt ngón trỏ và ngón giữa lên cổ tay tôi. Móng tay ông màu vàng, dài tới hơn năm xăngtimét, cong vào ở đầu ngón.
- Mạch đập rối lắm. Nghe có tiếng của sự thụ thai. Cô có thai!
Tôi nghe tiếng mình run run hỏi:
- Thưa cụ có chắc không ạ?
- Chắc chứ, vừa nói, ông vừa bắt mạch trên tay trái tôi. Phía sau tôi, Hương đứng lên:
- Thưa cụ, cụ có thuốc phá thai không ạ?
Ông lang lắc đầu:
- Phải tội đấy.
Hương cười gằn.
- Xin cụ cho đơn! Nó vừa nói vừa vứt ra giữa bàn chiếc vòng vàng to tướng đeo ở cổ tay.
Ông già Mãn Châu suy nghĩ một lát, mắt vẫn liếc chiếc vòng, rồi cầm bút lông.
Hương đi cùng tôi về nhà.
- Tối mai, sau giờ học, tớ sẽ đem thuốc đến và rồi chúng mình sẽ nhanh quên chuyện này.
- Cậu đừng vất vả quá thế, tớ chỉ có chết mới rửa sạch được danh dự. Này cậu cầm lấy cái vòng ngọc này của tớ. Tớ không muốn bắt cậu phải trả tiền hộ tớ, tớ chẳng xứng đáng được như thế đâu.
Nó lại lồng chiếc vòng vào cổ tay tôi.
- Những đồ trang sức này từ nay có giúp gì được cho tớ nữa đâu? Ngày mai, cậu uống thuốc và sẽ trút được gánh nặng. Một năm nữa tớ sẽ lấy chồng và sẽ bị một người lạ phá trinh. Thế thôi.
72.
Sau hôm mưa, trời lại đẹp.
Vào mùa này, những chú bé bán hoa nhài ra sức chèo kéo khách qua đường. Tôi không cưỡng lại được những lời năn nỉ của chúng và mua một vòng hoa đeo tay, lòng thầm nghĩ đến cổ tay rám nắng của cô gái người Hoa.
Khi tôi nhìn thấy em trên quảng trường Thiên Phong, tôi như thấy lại bóng dáng kỳ quặc của em hôm trước bên bờ sông dưới mưa. Không biết em làm gì lúc đó? Em nghĩ gì lúc đó? Hôm qua em đi một đôi giầy đi trong nhà, em lê bước trong thành phố như một người điên. Hôm nay, tóc em vén cao để lộ trán rộng và tết thành một bím nặng, em lại trở thành một nữ kỳ thủ lạnh lùng và sắc sảo.
Có gì đó đã thay đổi trong em trong hai mươi bốn giờ qua. Hay vì tôi không nhìn em với con mắt của tôi ngày hôm qua? Dưới chiếc váy màu sẫm, buồn, ngực em vồng lên. Thân hình em đã hết nét cứng ngắc của trẻ con để lộ ra vể mềm mại rắn chắc của thiếu nữ. Dù mắt em lạnh lùng và lông mày nhíu lại, đôi môi mịn màng hồng dịu của em khiến người ta càng thêm khao khát. Em lầm lì bứt rứt giật giật đuôi tóc. Cứ như thể em đau khổ vì sự sống đang nảy nở trong em vậy.
Em đi một quân.
- Đi hay quá! Có tiếng một tay thanh niên đang tiến đến gần bàn chúng tôi.
Tại quảng trường Thiên Phong, người ta đi qua đi lại, nhìn thế cờ, đôi khi lại còn thêm vài lời bình phẩm. Cậu chàng này khoảng hai mươi tuổi, tóc chải sáp, người sặc mùi nước hoa làm tôi ngứa mắt.
Tôi đi trả một nước.
Thằng cha chẳng biết gì về cờ lại kêu lên:
- Đi sai rồi! Đáng ra phải đi vào đây chứ!
Hắn trỏ tay lên bàn cờ, ngón tay mảnh, hồng hào, đeo một chiếc nhẫn ngọc trắng.
Rồi hắn nói thẳng với cô gái người Hoa:
- Tôi là bạn của anh Lữ. Tôi từ Tân Kinh tới.
Cô gái ngẩng đầu. Sau vài lời chào hỏi, em lôi hắn ra một bên bàn cờ.
Gió thổi vọng đến tai tôi tiếng hai người nói chuyện. Họ thân mật được với nhau ngay và đã gọi nhau là anh em. Tiếng Trung Quốc có năm dấu, nghe như có nhạc và câu chuyện của họ quả là một thứ ca kịch khó chịu. Tôi tức tối vò nát đám hoa nhài trong túi áo.
Từ khi tôi bắt đầu chơi tại quảng trường Thiên Phong, cờ vây làm tôi quên tôi là người Nhật. Tôi cứ nghĩ mình cũng đồng xứ với họ. Giờ đây tôi nhắc nhở mình rằng người Trung Hoa là một giống khác, thuộc về một thế giới khác. Cả ngàn năm lịch sử phân cách giữa họ và tôi.
Năm 1880, ông tôi tham gia vào công cuộc cải cách thời Minh trị, còn ông cha của họ phục vụ dưới triều Từ hy Thái hậu. Năm 1600, tổ tiên tôi sau khi thua trận đã tự mổ bụng mình còn tổ tiên của họ chiếm được đế quyền tại Bắc Kinh. Thời Trung Cổ, khi các phu nhân thuộc gia đình tôi mặc những bộ kimônô có đuôi áo dài sệt đất, cạo lông mày và nhuộm răng màu đen, các bà mẹ, chị em họ bới tóc thành những búi tóc cao. Và họ đã bó chân ngay từ hồi đó. Một người đàn ông và một người đàn bà Trung Hoa hiểu nhau ngay cả khi chưa mở miệng nói. Họ mang trong mình cùng một nền văn hoa, và thu hút nhau như nam châm hút sắt. Làm sao mà một thanh niên niên Nhật Bản và một thiếu nữ Trung Hoa lại có thể yêu nhau được? Họ chẳng có gì chung.
Cô gái chơi cờ mái không quay lại. Chiếc áo dài xanh lá của em, lúc này nhìn có vẻ buồn thảm, nay bỗng toát lên sức sống khi em hoà lẫn trong màu cây xanh quanh em. Phải chăng đó là hình ảnh nước Trung Hoa của tôi, niềm say mê và mối căm thù của tôi? Khi gần em, nỗi khốn khổ của em khiến tôi thất vọng. Đứng xa em, nét duyên dáng của em ám ảnh tôi.
Em không thèm đoái hoài gì gì đến tôi.
Tôi bỏ đi.
Cô gái quay lại.
Như một hồn ma, cô tách xa khỏi dòng sông và ra khỏi khu rừng. Ngoài kia, dưới cơn mưa, mọi phố xá đều giống nhau, đều không một bóng người. trong bóng tối, thiếu nữ chập chờn dẫn tôi tới một thế giới khác.
Đột nhiên cô biến mất: tôi lao lên tìm cô nhưng vô hiệu.
Có một chiếc xe tay nhô ra từ màn mưa mù mịt và chấp nhận kéo tôi về tiệm ăn Chiđôri.
Đại uý Nakamura chờ tôi trong một phòng riêng biệt. Anh mời tôi nâng cốc vì vinh quang của Thiên Hoàng. Sau ba ly rượu sakê và vài miếng cá sống, tôi cúi mình thật thấp trước đại uý:
- Đại uý, tôi không hoàn thành nhiệm vụ anh giao. Xin anh hãy trừng phạt nghiêm khắc.
Một nụ cười dấp dính nơi khoé miệng anh:
- Đại uý, tôi không thể phân biệt được một tay gián điệp với một công dân hiền lành bình thường. Trên quảng trường Thiên Phong, tôi quên mất trách nhiệm của mình, tôi chỉ chơi cờ thôi.
Anh dốc cạn cốc rượu sakê, nhìn thẳng vào mắt tôi nói từng từ tách bạch:
- Trang Tử (1) đã nói: “Mất ngựa, làm sao biết lại chẳng phải là điều hay?”. Một người thông minh không bao giờ phí thời gian của mình.
Rồi anh thêm:
- Trung uý có biết là hồi xưa tôi yêu một cô gái Trung Hoa không?
Tôi đỏ mặt, tại sao lại có chuyện tâm sự thế này nhỉ?
- Tôi sang Trung Quốc cách đây mười lăm năm. Ở Thiên Tân, tôi được nhận vào làm tại một nhà hàng Nhật Bản, ông bà chủ là người Kôbê. Tôi rửa chén đĩa, dọn nhà, chạy việc vặt, được nuôi ăn và cho ở trong một cái phòng nhỏ xíu. Thỉnh thoảng lắm mới có vài phút thảnh thơi, tôi thường ngồi bên cửa sổ. Bên kia đường có một tiệm ăn Tầu nổi tiếng về món bánh nhân thịt. Có một cô gái thường đến nhà từ sáng sớm mang theo thực phẩm và chập tối lại ra khỏi nhà đó tay xách đầy rác. Tôi cận nên chỉ thấy được dáng người thanh thanh và bím tóc dài cô ta buông sau lưng. Cô mặc bộ đồ đỏ, nom như một vệt lửa đi trong phố. Khi cô ta dừng bước, tôi có cảm giác như cô ta ngẩng đầu và nhìn tôi. Vì nhìn không rõ nên tôi cứ nghĩ là thấy cô ta cười và tim tôi đập mạnh.
Đại uý ngừng kể để rót cho tôi một cốc sakê mới và dốc cạn cốc của anh. Mặt anh bắt đầu đỏ phừng phừng.
- Một hôm tôi lấy hết can đảm để vào tiệm ăn kia với cái cớ là đặt một món gì đó. Cô ấy đứng đằng sau quầy hàng. Khi tới gần, tôi nhìn rõ từng nét, từng nét một trên gương mặt cô. Lông mày dầy, mắt đen. Tôi xin mua bánh nhận thịt. Cô không hiểu tiếng Nhật, tôi bèn vẽ chiếc bánh trên một tờ giấy. Cô ấy nghiêng người sau lưng tôi để xem. Tóc cô ấy trượt xuống, sượt qua má tôi.
Lại thêm một chai nữa, là chai thứ năm tôi uống cùng đại uý. Gió đã dịu và trời im tiếng sấm, chỉ còn nghe tiếng mưa rơi đều đều.
- Cô ấy thậm chí còn không biết viết tên mình bằng tiếng Trung Quốc. Chúng tôi chẳng có cách nào nói chuyện được với nhau. Chỉ có mỗi cách nhìn nhau không biết chán.Tôi thì chỉ nhìn thấy màu đỏ của áo và màu bím tóc đen huyền. Tôi tự tưởng tượng ra khuôn mặt của cô ấy, mà tôi chỉ nhìn thoảng thấy được thôi. Hồi đó tôi nghèo lắm và quà của tôi cho cô ấy là những bó hoa dại mọc ven vệ đường. Tôi ném chúng xuống phía dưới cửa sổ của tiệm ăn. Cứ chập tối, cô ấy lại mang cho tôi bánh nhân thịt mới ra lò còn nóng hổi. Tôi cũng không thể nào ăn được những chiếc bánh do tay cô ấy mới nặn ra nên thường giữ chúng cho tới khi chúng hỏng.
Một hôm, cũng như hôm nay này, trời mưa suốt buổi chiều. Nhiều khách hàng trú mưa trong nhà hàng chúng tôi và ăn mì nóng. Quá nửa đêm, tôi ra khỏi nhà bỗng có ai ôm chầm lấy tôi. Chính là cô ấy. Cô ấy run cầm cập và mưa quá nên tôi cũng chẳng biết là cô ấy khóc hay cười nữa. Tôi ôm cô ấy trong tay và ngồi lên bệ tường. Chúng tôi ôm hôn nhau và thì thầm bằng tiếng của mình những lời yêu đương. Tôi quên cả lạnh, cả đêm tối, cũng chẳng để ý thời gian trôi qua.
Đại uý im lặng lúc lâu. Rồi anh nổi giận và lại gọi một chai sakê nữa. Anh rót rượu cho chúng tôi mà tay run. Rượu rơi cả lên áo anh nhưng anh không để ý. Máu chảy rần rật trên thái dương tôi. Tôi lắng nghe câu chuyện của đại uý với sự chăm chú không kiềm chế của một người say. Đại uý đang không biết tìm từ gì cho đúng. Có chuyện gì bi thảm đã xảy ra cho con người cô độc này?
- Ngày hôm sau, tôi mang tất cả tiền dành dụm được và vào một cửa hàng tạp hoá Nhật. Tôi chẳng có đủ tiền để mua một chiếc kimônô, thôi thì một chiếc ôbi (2) cũng được vậy. Món quà đó chính là liều thuốc độc mà tôi đã vô tình rót vào trong ly mật ngọt của mối tình. Quan hệ của chúng tôi chẳng bao lâu bị phát giác. Một tháng sau, cô gái biến mất không để lại dấu vết gì.
Im lặng nặng nề trên bàn rượu của chúng tôi.
- Mãi lâu sau, khi tôi nhập ngũ, tôi tìm cách dò hỏi về số phận cô ấy. Tiệm ăn đã đóng cửa từ lâu. Nhà chủ là những tay do thám, nay đã biến mất không còn tăm tích. Sau khi biết được cô giúp việc đi lại với một người Nhật, chúng đã giết cô ấy…
“Mặt trăng đâu còn nữa,
Mùa xuân không còn là xuân năm xưa!
Chỉ còn lại mình tôi
Vẫn là tôi thủa ấy!” (3)
Anh bật nức nở.
Mai đây chúng tôi sẽ trở thành cát bụi. Nào có ai bận tâm về mối tình của một người lính?
-------------
Chú giải của chương:
(1)Triết gia TQ (360-280 trước CN),người xây dựng nên Đạo giáo
(2) Obi: thắt lưng rộng mặc cùng với áo kimono
(3)Trích đoạn từ chuyện kể Ise Monogatari của vùng Ise, NB, thế kỷ 10, do Rene Sieffert dịch
71.
Tan buổi học, Hương kéo tôi vào góc lớp.
- Tìm được thầy thuốc cho cậu rồi. Đi theo tớ.
- Ai thế? Làm sao cậu biết ông ta?
Nó nhìn quanh. Phòng đã hết người, chỉ còn hai đứa chúng tôi chưa về.
Nó thì thầm vào tai tôi:
- Có nhớ cái bà gác cổng vẫn cho tớ trèo tường không? Hôm qua, tớ bảo mụ ấy là tớ có thai và đang tìm một thầy thuốc.
- Điên à! Nếu mụ ấy bép xép cậu sẽ bị đuổi học và bố cậu sẽ cạo trọc đầu cậu bắt đi tu!
- Đừng lo. Tớ bảo mụ ấy là: “Nếu bà để lộ ra, tôi sẽ tố cào bà với công an về tội môi giới mãi dâm. Tôi sẽ báo với cảnh sát điều tra là bà xúi bẩy nữ sinh bán thân để moi tiền của họ. Thế là bà mất việc mà lại còn bị kết án và treo cổ nơi công cộng nữa đấy.” Tớ doạ mụ ta đến độ mụ vội vàng tìm ra cho tớ một ông lang kín tiếng nhất.
Tôi đi theo Hương về ký túc xá. Nó ăn bận cho tôi thành một thiếu phụ ba mươi tuổi, đấy là theo nó nghĩ.
Xe tay đưa chúng tôi qua chợ trời. Dọc theo hè phố, đầy những đồ gỗ, bát đĩa, vải vóc, đồ tầm tầm, đồ trang sức, các cuộn tranh giấy màu vàng ngà, mốc meo. Những người bán hàng là những quý tộc Mãn Châu hết thời, ăn bận rách rưới, lang thang giữa đống đồ nát này và tìm cách đổi một chiếc tẩu thuốc bằng ngọc thạch, một chiếc bình cổ lấy một hai giờ thoát tục trong khói thuốc phiện. Chỉ có vài sĩ quan Nhật dạo quanh đó và tham lam xem xét các hàng bày bán.
Hương cảnh giác bắt xe tay dừng ở đầu phố. Chúng tôi đi khoảng hai trăm mét rồi lách qua một bậc cổng đã sụt mất một nửa, chúng tôi chen vào trong ngõ đầy những chăn, quần, tã trẻ con đang phơi phấp phới trên dây. Tôi ngửi thấy mùi nước đái khai nồng, mùi trứng thối và gập người xuống nôn.
Cuối hành lang đầy tã là nhiều căn phòng xập xệ sưới mái dốc. Mỗi gia đình đặt bếp lò ngay phía ngoài. Ruồi bay vù vù.
Hương kêu to:
- Ông lang Hoàng Phố ở đâu ạ?
Một bà tóc tai xoã xượi hiện ra trên ngưỡng cửa nhìn chúng tôi vẻ khinh miệt:
- Nhà cuối kia kìa, bên tay phải.
Trên cánh cửa có một tấm biển mực đã nhạt màu:
“Thầy thuốc lừng danh bốn biển, bốc mạch như thần, làm trường xuân bất lão. Chuyên các bệnh: lở loét, giang mai, lậu.”
Chúng tôi gõ cửa. Một bà tóc uốn, mặt dày phấn bước ra, nhìn chúng tôi từ đầu đến chân rồi cồm cộp gót giầy bước đi. Tôi bị Hương đẩy đằng sau, loạng choạng bước vào một căn phòng tối om. Một cô gái nằm còng queo trong một góc, nom như người chết rồi. Cạnh cô ta, một ông đang hút thuốc. Ông ta quan sát chúng tôi:
- Hỏi nhà nào đấy?
Chúng tôi lẩn vào một góc.
Mùi thuốc bắc nồng nặc và nhiều thứ mùi khác làm tôi lảo đảo.
Không biết mất bao lâu mới đến lượt tôi được vào phòng khám. Ông lang Hoàng Phố chỉ còn rất ít sợi tóc bạc và để sau lưng thành một bím nhỏ như cái đuôi lợn. Ông ta ngồi đằng sau một tủ sách lơ thơ vài quyển, vừa vuốt râu vừa hỏi:
- Bệnh nhân nhà ai đấy?
Hương trả lời thay tôi:
- Chúng cháu tự đến ạ.
- Bao nhiêu tuổi?
- Hai mươi ạ, nó đáp.
- Có vấn đề gì?
- Bạn cháu tắt kinh từ ba tuần nay.
- À được, mở miệng ra, thè lưỡi ra. Được, được, cởi váy ra.
- Cởi váy ra kìa, ông ta nhắc lại.
Hương quay mặt đi. Tôi ghét tôi làm sao. Nước mắt lưng tròng, tôi cởi cúc váy.
- Nằm xuống chỗ kia.
Ông ta chỉ cho tôi một tấm phản phủ tấm ga trải giường bẩn.
- Dạng chân ra.
Tôi nghĩ mình chắc chết mất. Tôi siết hai nắm tay để khỏi khóc. Tay cầm đèn, ông già tiến lại.
Ông ta nhìn, sờ nắn, rất từ từ.
- Được, được, ông ta vừa nói vừa đứng dậy. Không có biểu hiện thối thịt. Mặc áo vào.
Ông ta bảo tôi kê tay phải lên bàn và đặt ngón trỏ và ngón giữa lên cổ tay tôi. Móng tay ông màu vàng, dài tới hơn năm xăngtimét, cong vào ở đầu ngón.
- Mạch đập rối lắm. Nghe có tiếng của sự thụ thai. Cô có thai!
Tôi nghe tiếng mình run run hỏi:
- Thưa cụ có chắc không ạ?
- Chắc chứ, vừa nói, ông vừa bắt mạch trên tay trái tôi. Phía sau tôi, Hương đứng lên:
- Thưa cụ, cụ có thuốc phá thai không ạ?
Ông lang lắc đầu:
- Phải tội đấy.
Hương cười gằn.
- Xin cụ cho đơn! Nó vừa nói vừa vứt ra giữa bàn chiếc vòng vàng to tướng đeo ở cổ tay.
Ông già Mãn Châu suy nghĩ một lát, mắt vẫn liếc chiếc vòng, rồi cầm bút lông.
Hương đi cùng tôi về nhà.
- Tối mai, sau giờ học, tớ sẽ đem thuốc đến và rồi chúng mình sẽ nhanh quên chuyện này.
- Cậu đừng vất vả quá thế, tớ chỉ có chết mới rửa sạch được danh dự. Này cậu cầm lấy cái vòng ngọc này của tớ. Tớ không muốn bắt cậu phải trả tiền hộ tớ, tớ chẳng xứng đáng được như thế đâu.
Nó lại lồng chiếc vòng vào cổ tay tôi.
- Những đồ trang sức này từ nay có giúp gì được cho tớ nữa đâu? Ngày mai, cậu uống thuốc và sẽ trút được gánh nặng. Một năm nữa tớ sẽ lấy chồng và sẽ bị một người lạ phá trinh. Thế thôi.
72.
Sau hôm mưa, trời lại đẹp.
Vào mùa này, những chú bé bán hoa nhài ra sức chèo kéo khách qua đường. Tôi không cưỡng lại được những lời năn nỉ của chúng và mua một vòng hoa đeo tay, lòng thầm nghĩ đến cổ tay rám nắng của cô gái người Hoa.
Khi tôi nhìn thấy em trên quảng trường Thiên Phong, tôi như thấy lại bóng dáng kỳ quặc của em hôm trước bên bờ sông dưới mưa. Không biết em làm gì lúc đó? Em nghĩ gì lúc đó? Hôm qua em đi một đôi giầy đi trong nhà, em lê bước trong thành phố như một người điên. Hôm nay, tóc em vén cao để lộ trán rộng và tết thành một bím nặng, em lại trở thành một nữ kỳ thủ lạnh lùng và sắc sảo.
Có gì đó đã thay đổi trong em trong hai mươi bốn giờ qua. Hay vì tôi không nhìn em với con mắt của tôi ngày hôm qua? Dưới chiếc váy màu sẫm, buồn, ngực em vồng lên. Thân hình em đã hết nét cứng ngắc của trẻ con để lộ ra vể mềm mại rắn chắc của thiếu nữ. Dù mắt em lạnh lùng và lông mày nhíu lại, đôi môi mịn màng hồng dịu của em khiến người ta càng thêm khao khát. Em lầm lì bứt rứt giật giật đuôi tóc. Cứ như thể em đau khổ vì sự sống đang nảy nở trong em vậy.
Em đi một quân.
- Đi hay quá! Có tiếng một tay thanh niên đang tiến đến gần bàn chúng tôi.
Tại quảng trường Thiên Phong, người ta đi qua đi lại, nhìn thế cờ, đôi khi lại còn thêm vài lời bình phẩm. Cậu chàng này khoảng hai mươi tuổi, tóc chải sáp, người sặc mùi nước hoa làm tôi ngứa mắt.
Tôi đi trả một nước.
Thằng cha chẳng biết gì về cờ lại kêu lên:
- Đi sai rồi! Đáng ra phải đi vào đây chứ!
Hắn trỏ tay lên bàn cờ, ngón tay mảnh, hồng hào, đeo một chiếc nhẫn ngọc trắng.
Rồi hắn nói thẳng với cô gái người Hoa:
- Tôi là bạn của anh Lữ. Tôi từ Tân Kinh tới.
Cô gái ngẩng đầu. Sau vài lời chào hỏi, em lôi hắn ra một bên bàn cờ.
Gió thổi vọng đến tai tôi tiếng hai người nói chuyện. Họ thân mật được với nhau ngay và đã gọi nhau là anh em. Tiếng Trung Quốc có năm dấu, nghe như có nhạc và câu chuyện của họ quả là một thứ ca kịch khó chịu. Tôi tức tối vò nát đám hoa nhài trong túi áo.
Từ khi tôi bắt đầu chơi tại quảng trường Thiên Phong, cờ vây làm tôi quên tôi là người Nhật. Tôi cứ nghĩ mình cũng đồng xứ với họ. Giờ đây tôi nhắc nhở mình rằng người Trung Hoa là một giống khác, thuộc về một thế giới khác. Cả ngàn năm lịch sử phân cách giữa họ và tôi.
Năm 1880, ông tôi tham gia vào công cuộc cải cách thời Minh trị, còn ông cha của họ phục vụ dưới triều Từ hy Thái hậu. Năm 1600, tổ tiên tôi sau khi thua trận đã tự mổ bụng mình còn tổ tiên của họ chiếm được đế quyền tại Bắc Kinh. Thời Trung Cổ, khi các phu nhân thuộc gia đình tôi mặc những bộ kimônô có đuôi áo dài sệt đất, cạo lông mày và nhuộm răng màu đen, các bà mẹ, chị em họ bới tóc thành những búi tóc cao. Và họ đã bó chân ngay từ hồi đó. Một người đàn ông và một người đàn bà Trung Hoa hiểu nhau ngay cả khi chưa mở miệng nói. Họ mang trong mình cùng một nền văn hoa, và thu hút nhau như nam châm hút sắt. Làm sao mà một thanh niên niên Nhật Bản và một thiếu nữ Trung Hoa lại có thể yêu nhau được? Họ chẳng có gì chung.
Cô gái chơi cờ mái không quay lại. Chiếc áo dài xanh lá của em, lúc này nhìn có vẻ buồn thảm, nay bỗng toát lên sức sống khi em hoà lẫn trong màu cây xanh quanh em. Phải chăng đó là hình ảnh nước Trung Hoa của tôi, niềm say mê và mối căm thù của tôi? Khi gần em, nỗi khốn khổ của em khiến tôi thất vọng. Đứng xa em, nét duyên dáng của em ám ảnh tôi.
Em không thèm đoái hoài gì gì đến tôi.
Tôi bỏ đi.