Trợ giúp bài giải các môn

babyskydragon2004

Super Moderator
Staff member
Đây là sườn điểm,gợi ý bài giải môn Văn mà mình tâm đắc nhất nè,post môn này trước nha

ĐỀ VÀ GỢI Ý THAM KHẢO CÁCH LÀM ĐỀ SỐ 1 - MÔN NGỮ VĂN

Câu 1 (2 điểm): Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Lui Aragông.

Câu 2 (3 điểm): Nhận xét ngắn gọn về tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân.

Câu 3 (5 điểm): Phân tích cái hay, cái đẹp trong đoạn thơ sau:

Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.

(Trích Việt Bắc - Tố Hữu, Văn học 12 - tập một,
tr.154-155, NXB Gio dục, H Nội, 2005)


Gợi ý:

* Câu 1 (2 điểm):

Lui Aragông sinh ra và lớn lên ở Paris, ham mê văn chương nhưng theo ý gia đình học y khoa. Năm 1918 nhập ngũ, sau một năm thì xuất ngũ, theo đuổi văn chương, lúc đầu theo trường phái siêu thực, nổi lọan. Nhưng sau đó, tìm thấy cái đẹp lý tưởng cộng sản, gia nhập Đảng cộng sản Pháp năm 1927. Năm 1928 gặp và yêu Elsa Triolet (cô gái Nga gốc Do Thái) và năm 1932 thì cưới nàng. Tình yêu Elsa đã chấp cánh thơ, lý tưởng đẹp của nhà thơ. Trong thế chiến thứ hai (1939-1945), ông nhập ngũ chống phát xít Đức. Năm 1953 được bầu vào ban chấp hành đảng cộng sản Pháp. Năm 1957 được trao giải thưởng hòa bình mang tên Lênin.

Sự nghiệp văn chương của L.Aragông đồ sộ gồm: thơ, tiểu thuyết, bình luận văn học. Tác phẩm tiêu biểu: tiểu thuyết “Những người cộng sản” ( 6 tập); Thơ “Đôi mắt Elsa”, “Anh chàng say đắm Elsa”…

* Câu 2 (3 điểm):

I. Đặt vấn đề:

- Giới thiệu tác giả Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt.

- Một trong những thành công của tác phẩm Vợ nhặt là nhà văn đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo.

II. Giải quyết vấn đề:

1. Tóm tắt tình huống truyện:

Tràng - một anh nông dân nghèo, xấu trai, là dân ngụ cư. Vậy mà chỉ vài câu hò buâng quơ và mấy bát bánh đúc đã có vợ hẳn hoi theo về.

2. Nhận xét:

Đây là một tình huống lạ, hiếm thấy nhưng lại có giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật cao:

-Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít, phong kiến đã đẩy nhân dân ta đến nạn đói khủng khiếp năm 1945.

- Con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn khát khao sống hạnh phúc, vẫn tin tưởng và kỳ vọng vào tương lai

- Nhờ tình huống độc đáo mà tác phẩm lôi cuốn và hấp dẫn. Nhân vật được đặt trong các tình huống gay cấn để bộc lộ tâm trạng, tính cách.

III. Kết thúc vấn đề:

Với tình huống được cấu trúc độc đáo, tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

* Câu 3 (5 điểm)

- Yêu cầu thí sinh biết cách làm bài phân tích một đọan thơ để cảm nhận được vẻ đẹp, cái hay, đặc sắc của đoạn thơ. Bố cực mạch lạc, hành văn trôi chảy.

- Bài làm gồm các ý cơ bản sau:

1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích: Việt Bắc là bài thơ hay, đặc sắc của Tố Hữu và của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Thông qua lời hát đối đáp mang âm hưởng đối đáp giao duyên trong ca dao, dân ca, tác giả bộc lộ tình cảm lớn của thời đại, ân tình cách mạng và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong 9 năm kháng chiến đầy gian khổ ở Việt Bắc. Đoạn thơ trên bộc lộ tâm trạng của người ở lại Việt Bắc thương nhớ và sắt son với người cán bộ kháng chiến về xuôi.

2. Cái hay cái đẹp trong đọan thơ: thể thơ lục bát, truyền thống của dân tộc được tác giả sử dụng nhuần nhuyễn, điêu luyện trong lối hát đối đáp giao duyên như trong ca dao dân ca, đặc biệt chọn lựa và sử dụng cặp từ nhân xưng “mình - ta” thật phù hợp, thân thiết mà không sổ sàng; kín đáo mà không xa vời. Ở đoạn thơ này người ở lại Việt Bắc với nhân xưng là “mình”.

- Hai cặp lục bát trên với những câu hỏi (tu từ) đã bộc lộ tấm lòng quyến luyến, đồng thời gợi lên những kỷ niệm ân tình gắn bó trong 9 năm kháng chiến gian khổ ở núi rừng Việt Bắc. Cùng chịu đựng sẻ chia gian khổ “miếng cơm chấm muối” và cùng chung mối căm thù cao độ “mối thù nặng vai”.

- Hai cặp lục bát dưới: tác giả khéo léo sử dụng nghệ thuật ẩn dụ “ rừng núi nhớ ai” và “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, cũng như hình thức điệp từ “nhớ” để bộc lộ tấm lòng thủy chung son sắc của người ở lại Việt Bắc đối với người cán bộ kháng chiến về xuôi.

3. Cái hay cái đẹp của đoạn thơ là những câu thơ lục bát với giọng tâm tình tha thiết, đậm đà tính dân tộc, nhà thơ đã bộc lộ tấm lòng nhớ thương và thủy chung của đồng bào dân tộc Việt Bắc với người cán bộ kháng chiến về xuôi, với cách mạng, với đảng và Bác Hồ.

-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Đề 2 tui làm nè:


ĐỀ VÀ GỢI Ý THAM KHẢO CÁCH LÀM ĐỀ SỐ 2 - MÔN NGỮ VĂN

Câu 1 (2 điểm): Chỉ mẹ là niềm vui, ánh sáng diệu kỳ
Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước.

(Trích Thư gửi mẹ - Êxênin, Văn học 12-tập hai,
tr.55, NXB Giáo dục, 2004).

Anh, chị hiểu hai câu thơ trên như thế nào?

Câu 2 (3 điểm): Giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Câu 3 (5 điểm): Phân tích vẻ đẹp người lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân.


Gợi ý:

* Câu 1 (2 điểm):

Câu thơ đầu khẳng định mẹ là người đàn bà quan trọng nhất trong đời đối với tác giả. Vai trò người mẹ đối với ông như là đức mẹ (vì ông là người theo đạo). Mẹ là người duy nhất mang lại cho tác giả niềm vui và “ánh sáng diệu kỳ”. “Ánh sáng diệu kỳ” có thể hiểu như những phép lạ của một đức mẹ ban cho những cảnh đời u tối.

Câu thứ hai: “Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước” khẳng định thêm mẹ là người duy nhất giúp ông vững bước trên đường đời nhiều gian truân. Đối với ông mẹ là niềm tin thiêng liêng nhất trong cuộc đời.

* Câu 2 (3 điểm):

Hình ảnh cây xà nu và rừng xà nu trong truyện có tác dụng tạo nền cho câu chuyện. Bằng những hình tượng nghệ thuật có giá trị tạo hình, có ý nghĩa tượng trưng và bằng thủ pháp nhân hóa làm cho cây xà nu cũng như rừng xà nu hiện hình sống động trước mắt người đọc: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”. Rồi “… nhựa ứa ra, tràn trề… rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn”. “Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”. Và có khi “cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây non mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”.

Cây xà nu là một loại cây đặc biệt sinh trưởng nơi núi rừng Tây Nguyên, là loại cây “ham ánh sáng mặt trời” như con người Tây Nguyên luôn vươn tới ánh sáng chân lý. Nó lại có sức sống vững bền: "Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn…” như con người Tây Nguyên luôn quật khởi kiên cường. Cây xà nu, rừng xà nu đã gắn bó với con người Tây Nguyên tự bao đời nay, như một lẽ tự nhiên và khi cần “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…”. Ở một tầng nghĩa cao hơn, rừng xà nu tiêu biểu cho sức sống bất diệt, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên. Các thế hệ cây xà nu nối tiếp nhau lớn lên tượng trưng cho các thế hệ dân làng Xô-man, nói rộng ra là các thế hệ nhân dân Việt Nam.

* Câu 3 (5 điểm):

Nhân vật người lái đò được Nguyễn Tuân nhìn như là đối tượng của cái Đẹp. Theo Nguyễn Tuân, không cứ gì cứ là người hoạt động ở các ngành nghệ thuật họ mới là kẻ tài hoa nghệ sĩ. Mà những con người xung quanh chúng ta biết tôn trọng cái Đẹp đều có thể ứng xử Đẹp và tự giác sáng tạo ra cái Đẹp.

Nghệ thuật ở đây chính là nó đã nhập thân vào người lái đò cả phương diện hình thức lẫn tính cách. “Trên thác hiên ngang một người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy nắm được quy luật tất yếu của dòng sông Đà.

Hình ảnh người lái đò sông Đà được Nguyễn Tuân dựng tượng khiến cho ta như sờ mó được. Bức tượng ấy không phải là con người chung chung mà nó tạo dáng hết sức riêng biệt không thể đặt tên gì khác hơn là “người lái đò sông Đà”. Bức tượng hắt chiếu ra tính cách bên trong của con người này.

“Tay ông dài lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào… nhỡn giới ông vời vợi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”.

- Để làm nổi bật tài nghệ của ông lái đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác của ông như là một viên tướng ngày xưa lao vào một trận đồ bát quái của Khổng Minh với biết bao nhiêu cạm bẫy, hết vòng này đến vòng khác, và mỗi vòng, đá trên thác sông Đà đều có những viên tướng ti ba chỉ huy.

Để áp đảo ông lái đi, đám “quân thác đá” còn nổi trống chiêng la hò dữ dội “Rống lên như ngàn con trâu mộng đang lồng lộn… rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu cháy bùng bùng”.

Thật là một liên tưởng hết sức bất ngờ. Câu chuyện nói về “đá thác” ở đây là liên tưởng tới “đàn trâu” và “rừng bị cháy”. Nếu không có phong cách tài hoa táo bạo của Nguyễn Tuân khi xử lý những hiện tượng trên sẽ gây ra khập khiễng, phi lôgich. Đoạn văn dựng cảnh đầy giá trị tạo hình, nó như một cuốn phim quay cận cảnh và dựng lại đặc tả các chi tiết. Chính Nguyễn Tuân đã có ý định sử dụng vốn văn hóa về môn nghệ thuật thứ bảy này để dựng cảnh thạch trận thật ấn tượng.

Ta cũng lưu ý thuật kể đầy hồi hộp, đầy kịch tính căng thẳng, vốn tri thức về quân sự và võ thuật được đưa ra ứng dụng. Quả là “ông lái đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá…, Ông đã “cưỡi” lên thác sông Đà: “Nắm chặt lấy cái bờm sóng”, “bám chắc lấy luồng nước” lúc “phóng nhanh” lúc “lái miết”, nhớ mặt bọn đá “đứa thì ông tránh” “đứa thì ông đè xấn lên”…

Ông lái đò quả là vị tướng đầy thao lược tài ba.

Ông đang trình diễn nghệ thuật của mình với qui luật thiên nhiên khắc nghiệt. Nếu thiếu một chút bình tĩnh, thiếu một chút chính xác, ông phải trả giá bằng mạng sống của mình.

Nguyễn Tuân quả là ưa khai thác những cảm giác mạnh để tác động những ấn tượng không phai mờ trong tâm não của độc giả về vẻ đẹp của ông lái đị, Không những là vẻ đẹp của bản lĩnh vượt thác phi thường mà cịn l vẻ đẹp của sự bình dị của con người sông nước bình thường.

Qua nhân vật người lái đò, Nguyễn Tuân cho rằng chủ nghĩa anh hùng đâu phải tìm kiếm đâu xa. Nó có trong cuộc sống tìm miếng cơm manh áo của nhân dân lao động. Những người bình dị có trí dũng tài ba họ có thể tạo hình tạc mẫu cho nghệ thuật. Họ là đối tượng của cái đẹp, của ánh sáng thẩm mĩ hiện đại.

:-h
 

babyskydragon2004

Super Moderator
Staff member
Sử nà:

ĐỀ VÀ GỢI Ý THAM KHẢO CÁCH LÀM ĐỀ SỐ 1

A. LỊCH SỬ VIỆT NAM (7,0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm): Trình bày nội dung Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Vì sao nói sự ra đời của Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam ?

Câu 2 (4.0 điểm): Trình bày âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh. Những thắng lợi quân sự chủ yếu trên các chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia của quân dân ba nước Đông Dương đoàn kết chống Mỹ (từ năm 1969 đến năm 1972)

B. LỊCH SỬ THẾ GIỚI (3.0 điểm)

Diễn biến chính của cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946-1949). Sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1-10-1949) có ý nghĩa như thế nào?

Gợi ý:

A. LỊCH SỬ VIỆT NAM (7,0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm):

1. Nội dung Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930:

- Nguyễn Ái Quốc đã phân tích tình hình thế giới và trong nước, phê phán những hành động thiếu thống nhất của các tổ chức Cộng sản và đề nghị thống nhất 3 tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất.

- Các đại biểu nhất trí thống nhất các tổ chức Cộng sản thành một Đảng duy nhất, tên Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo.

- Cử ban chấp hành Trung ương Đảng lâm thời.

- Ngày 24-2-1930: Đông Dương Cộng sản liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Sự ra đời của Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam:

a. Đảng ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng lãnh đạo cách mạng nước ta kéo dài hàng mấy chục năm trời. Từ đây, cách mạng Việt Nam đã có một chính Đảng chân chính duy nhất lãnh đạo, chính Đảng của giai cấp công nhân. Đó là nhân tố đầu tiên quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

b. Đảng đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam để đề ra đường lối đúng đắn, đưa cách mạng nước ta tiến lên giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vì vậy, Đảng ra đời đã mở ra giai đoạn thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

c. Đảng ra đời đã đánh dấu cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Từ đây, cách mạng Việt Nam nhận được sự ủng hộ của cách mạng thế giới, đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần mình cho cách mạng thế giới.

Câu 2 (4.0 điểm)

a. Âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh:

- Chiến lược “Việt Nam hóa” rồi mở rộng thành “Đông Dương hóa” chiến tranh.

- “Việt Nam hóa” chiến tranh là hình thức chiến tranh thực dân kiểu mới, được tiến hành bằng quân đội tay sai là chủ yếu cộng với một bộ phận lực lượng chiến đấu Mỹ và do Mỹ chỉ huy bằng hệ thống cố vấn quân sự, vũ khí phương tiện chiến đấu của Mỹ để chống lại lực lượng cách mạng của nhân dân ta.

- Thực chất của “Việt Nam hóa” chiến tranh là “dùng người Việt đánh người Việt”, hạn chế xương máu người Mỹ. Xương sống của chiến lược này là kế hoạch “bình định”.

* Các thủ đoạn “Việt Nam hóa” chiến tranh:

- Tăng viện trợ quân sự để quân đội tay sai tự đứng vững và tự gánh vác chiến tranh, rút dần quân Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam.

- Tăng viện trợ kinh tế để quân ngụy đẩy mạnh “bình định nông thôn” nhằm chiếm đất giành dân; tăng đầu tư vốn, kĩ thuật, phát triển kinh tế Miền Nam để giảm gánh nặng cho Mỹ.

- Mở rộng chiến tranh phá hoại Miền Bắc và xâm lược Lào, Campuchia.

- Câu kết với các nước lớn nhằm cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

b. Những thắng lợi quân sự chủ yếu của quân dân 3 nước Đông Dương (từ 1969 đến 1972):

- 30-4-1970: phối hợp với dân quân Campuchia đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của Mĩ - ngụy.

- Nửa đầu 1970: phối hợp với dân quân Lào đập tan cuộc hành quân lấn chiếm cánh đồng Chum và giải phóng Nam Lào.

- Từ tháng 2 đến 3-1971: đập tan cuộc hành quân chiếm giữ đường 9 Nam Lào của Mĩ - ngụy.

- Ngày 30-3-1972: mở cuộc tiến công chiến lược chọc thủng 3 phòng tuyến mạnh nhất của địch ở Quảng Trị, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.

- Những thắng lợi quân sự này đã làm phá sản chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh của đế quốc Mỹ.

B. LỊCH SỬ THẾ GIỚI (3.0 điểm)

1. Diễn biến chính:

- Sau chiến tranh chống Nhật kết thúc, lực lượng quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc phát triển mạnh.

- Liên Xô giúp chuyển giao vùng đông bắc của Trung Quốc, vùng công nghiệp có vị trí chiến lược. Giúp toàn bộ vũ khí thu được của hơn 1 triệu quân Quan Đông.

- Tập đoàn Tưởng Giới Thạch phát động cuộc nội chiến nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản Trung Quốc và phong trào cách mạng Trung Quốc. Họ cấu kết chặt chẽ với Mỹ. Mỹ âm mưu biến Trung Quốc thành thuộc địa kiểu mới.

- Ngày 20-7-1946, Tưởng Giới Thạch đã huy động toàn bộ lực lượng quân đội chính quy tấn công toàn diện vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

- Từ tháng 7-1946 đến tháng 6-1947, quân giải phóng thực hiện chiến lược phòng ngự.

- Từ tháng 6-1947, quân giải phóng chuyển sang phản công.

- Từ tháng 9-1948 đến tháng 1-1949, quân giải phóng lần lượt mở ba chiến lược lớn.

- Tháng 4-1949, Quân giải phóng vượt sông Trường Giang. Ngày 23-4, Nam Kinh - trung tâm thống trị tập đoàn quốc dân được giải phóng, nền thống trị quốc dân Đảng chính thức sụp đổ.

- 1-10-1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố chính thức thành lập, cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc đã hình thành.

2. Ý nghĩa:

- Đánh dấu sự thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc.

- Với diện tích bằng 1/4 châu Á và chiếm gần 1/4 dân số thế giới thắng lợi của cách mạng Trung Quốc đã tăng cường lực lượng của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

- Ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc thế giới.

----------------------------------------------------------

ĐỀ VÀ GỢI Ý THAM KHẢO CÁCH LÀM ĐỀ SỐ 2

A. LỊCH SỬ VIỆT NAM (7,0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm): Trình bày những khó khăn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành công.

Câu 2 (4,0 điểm): Khái quát diễn biến của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân dân ta ở miền Nam.

B. LỊCH SỬ THẾ GIỚI (3.0 điểm)

Diễn biến chính của cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946-1949). Sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1-10-1949) có ý nghĩa như thế nào?


Gợi ý:

A. LỊCH SỬ VIỆT NAM (7,0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm):

Những khó khăn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành công.

Sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, có nhiều khó khăn hiểm nghèo:

- 10 ngày sau cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công, những đội quân của các nước trong phe Đồng minh đã lũ lượt kéo vào nước ta dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật.

+ Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch ồ ạt vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh. Dã tâm của quân Tưởng là: tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng và lập một chính quyền phản động làm tay sai cho chúng. Các tổ chức phản động: Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) hùa theo làm tay sai cho quân Tưởng, lập chính quyền phản động ở một số nơi như: Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái, tuyên truyền kích động chống chính quyền cách mạng, gây ra các vụ cướp bóc, giết người…

+ Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân đội của đế quốc Anh đã dọn đường cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương. Các lực lượng phản cách mạng ở miền Nam như: Đại Việt, Tờrốtxkít, bọn phản động trong các giáo phái ngóc đầu dậy làm tay sai cho Pháp.

- Trên đất nước ta lúc bấy giờ còn 6 vạn quân Nhật. Một bộ phận lực lượng này đã theo lệnh của đế quốc Anh chống lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng.

- Nhà nước cách mạng mới thành lập gặp thêm nhiều khó khăn. Ngân sách trung ương lúc này chỉ có 1.230.000 đồng, trong đó gần một nửa là tiền rách nát, không lưu hành được. Nhà nước chưa kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương. Quân Tưởng tung ra các loại tiền “quốc tệ”, “quan tệ”, “quan kim” đã mất giá trị, càng làm nhiễu loạn thị trường tài chính của nước ta.

- Nền kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn đói do Nhật - Pháp gây ra cuối năm 1944 đầu năm 1945 vẫn chưa được khắc phục. Nạn lụt lớn tháng 8-1945 làm vỡ đê 9 tỉnh Bắc Bộ, mùa màng thất thu. Tiếp đó là nạn hạn hán kéo dài, làm cho 50% ruộng đất không cày cấy được. Sản xuất công nghiệp đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Nguy cơ về nạn đói mới đe dọa đời sống người dân.

- Di sản văn hóa của chế độ thực dân và phong kiến để lại rất nặng nề: hơn 90% dân số không biết chữ; cùng với các tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút… còn rất phổ biến.

Câu 2: (4,0 điểm)

Diễn biến:

a. Chiến dịch Tây Nguyên:

- Khu vực và mục tiêu tiến công lớn của ta là Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột.

- Đầu tháng 3-1975, đánh nghi binh vào Plây Cu, Kon Tum.

- 10-3-1975, với cách đánh táo bạo, thọc sâu, ta bất ngờ tiến công Buôn Ma Thuột. Sau 2 ngày, ta tiêu diêt toàn bộ quân địch và làm chủ thị xã.

- 14-3-1975, sau các cuộc phản công thất bại, địch rút chạy hoảng loạn khỏi Tây Nguyên. Ta chặn đánh, truy kích, tiêu diệt toàn bộ quân rút chạy và giải phóng Tây Nguyên (24-3-1975).

- Chiến thắng Tây Nguyên đã mở ra quá trình sụp đổ hoàn toàn của ngụy quân, ngụy quyền.

- Chớp lấy thời cơ, ngày 25-3-1975, Bộ chính trị đã sáng suốt đề ra quyết định giải phóng Miền Nam trước tháng 5.

- Từ cuộc tiến công chiến lược, ta phát triển thành tổng tiến công chiến lược.

b. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng:

- 19-3-1975, giải phóng toàn bộ Quảng Trị.

- 21-3-1975, ta tấn công Huế và ngăn chặn đường rút chạy của địch, giải phóng Huế (25-3-1975).

- Cùng thời gian này ta giải phóng thị xã Tam Kỳ, Quản Ngãi, Chu Lai… để uy hiếp Đà Nẵng từ phía Nam.

- Sáng ngày 29-3-1975, ta tấn công Đà Nẵng, sau 32 giờ, ta tiêu diệt trên 10 vạn quân địch, giải phóng Đà Nẵng.

- Trong thời gian chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, ta giải phóng một số tỉnh còn lại ven biển miền Trung, phía Nam Tây Nguyên, Nam Bộ và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

c. Chiến dịch Hồ Chí Minh:

- Cuối tháng 3-1975, Bộ chính trị đã quyết định giải phóng miền Nam trước tháng 5.

- Từ ngày 14-4-1975 đến 16-4-1975, ta chiếm Phan Rang tiếp đó giải phóng Bình Thuận, Bình Tuy.

- 18-4-1975, tổng thống Mỹ ra lệnh di tản người Mỹ.

- 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu từ chức tổng thống. Đến 28-4-1975, Dương Văn Minh lên làm tổng thống

- 17 giờ ngày 26-4-1975, ta nổ súng mở chiến dịch Hồ Chí Minh, năm cánh quân tiến vào Sài Gòn.

- Từ 27-4-1975 đến 28-4-1975, ta bao vây tiêu diệt địch ở vòng ngoài vừa đánh thọc sâu vào trung tâm Thành phố, chiếm các cơ quan đầu não của chúng.

- 29-4-1975, tổng công kích vào sào huyệt cuối cùng của địch.

- 11 giờ 30, ngày 30-4-1975, thành phố Sài Gòn hoàn toàn giải phóng, hoàn thành chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

- Đến ngày 2-5-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng.

B. LỊCH SỬ THẾ GIỚI (3.0 điểm)
 
Top