WTO

Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về WTO

WHAT'S THE WTO?

The World Trade Organization (WTO) is the only global international organization dealing with the rules of trade between nations. At its heart are the WTO agreements, negotiated and signed by the bulk of the world’s trading nations and ratified in their parliaments. The goal is to help producers of goods and services, exporters, and importers conduct their business.
 
Vài nét về Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Thành viên: 143 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm cả Liên minh châu Âu; 32 nước đang trong quá trình gia nhập.

Dân số: 3,557 tỷ người (chiếm 64% dân số thế giới).

Tổng sản phẩm quốc dân: 23.682 tỷ USD (chiếm 93% sản lượng thế giới).

Kim ngạch thương mại: 7.908,9 tỷ USD (thương mại nội khối chiếm 91%).


Tổ chức Thương mại Thế giới thành lập ngày 01-01-1995 với tư cách là thể chế pháp lý điều tiết các mối quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế mang tính toàn cầu. WTO ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả các nguyên tắc, luật lệ của tổ chức tiền thân đã tồn tại gần 50 năm trước đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT).


Các quy định của GATT (gồm 38 điều và 9 phụ lục) được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới của thương mại quốc tế, nhưng về cơ bản các nguyên tắc vẫn được giữ nguyên. Trong vòng đàm phán Urugoay, ngoài thương mại hàng hóa, một số lĩnh vực mới được đưa vào: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) và Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS). Các thỏa thuận này được áp dụng theo nguyên tắc tự do hóa thương mại của WTO, mặc dù có một số ngoại lệ. Ngoài các quy định chung, các thỏa thuận cũng bao gồm cam kết cắt giảm thuế và các rào cản thương mại đối với hàng hóa của các nước và cam kết nâng cao khả năng tiếp cận thị trường đối với lĩnh vực dịch vụ. Vòng Urugoay cũng đạt được một cơ chế giải quyết tranh chấp cho phép mối quan hệ trong thương mại quốc tế được giải quyết một cách công bằng hơn, hạn chế rất nhiều những hành động đơn phương, độc đoán của các nước lớn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thương mại đa phương.


Để tiếp tục thực hiện mục tiêu chung của GATT trước đây, WTO đã xác định ba mục tiêu cụ thể là:

(1) thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới,

(2) giải quyết các bất đồng, tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, và

(3) nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành viên.


Để thực hiện các mục tiêu nêu trên một cách hiệu quả, WTO đã đặt ra một loạt các nguyên tắc hoạt động mang tính ràng buộc mà tất cả các thành viên WTO phải tuân thủ. Có 4 nguyên tắc quan trọng nhất cần được đề cập:


a) Nguyên tắc "Tối huệ quốc" (MFN) được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó, thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác.

b) Nguyên tắc "Đối xử quốc gia" được hiểu là hàng hóa nhập khẩu, dịchvụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém phần thuận lợi hơn so với hàng hóa cùng loại trong nước.

c) Nguyên tắc "Cạnh tranh công bằng" thể hiện nguyên tắc "tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau".


Về cơ cấu tổ chức của WTO: có một cơ cấu gồm ba cấp:

1) Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định bao gồm Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại;

2) Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương, bao gồm Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồng TRIPS;

3) Cuối cùng là các cơ quan thực hiện chức năng hành chính - thư ký là Tổng Giám đốc và Ban Thư ký WTO.


Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO từ ngày 01-01-1995. Cho đến nay (tháng 5-2002), Nhóm Công tác về Việt Nam gia nhập WTO đã họp 4 phiên. Tháng 8-2001, Ban Thư ký WTO đã gửi và đề nghị Việt Nam góp ý sửa đổi, bổ sung đối với tài liệu Tóm tắt hiện trạng về hệ thống chính sách thương mại Việt Nam (Factual Summary). Tài liệu này đánh dấu việc Việt Nam hoàn thành giai đoạn minh bạch hóa hệ thống chính sách thương mại. Hiện nay, ta đang chuẩn bị bước vào đàm phán song phương về mở cửa thị trường với các nước thành viên WTO.


Nhìn chung, trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam có những thuận lợi và thách thức nhất định. Về mặt thuận, Việt Nam đã khắc phục tình trạng bị một số nước phân biệt đối xử, tạo dựng và dần dần nâng cao thế và lực của Việt Nam; tạo dựng được môi trường phát triển kinh tế công bằng, không phân biệt đối xử; nâng cao tính hấp dẫn thu hút đầu tư và công nghệ bên ngoài; nâng cao khả năng tiếp thu kinh nghiệm quản lý theo chuẩn mực quốc tế. Về mặt nghịch, một khi mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa các nước, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động yếu kém phải chấp nhận cạnh tranh gay gắt với doanh nghiệp nước ngoài; trình độ chuyên môn của cán bộ ta còn thấp...
 
Các quốc gia và vùng lãnh thổ thành viên WTO

WTO được thành lập ngày 1-1-1995, trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ, đến tháng 4-2003, WTO có 146 thành viên.


Bất kỳ một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào đầy đủ quyền thực hiện các chính sách thương mại đều có khả năng gia nhập WTO và quá trình này nhìn chung phải trải qua bốn giai đoạn:


* Chính phủ muốn đăng ký làm thành viên phải giới thiệu mọi phương diện trong chính sách kinh tế và thương mại có liên quan các hiệp định của WTO thông qua một bản ghi nhớ sẽ được bên tham gia giải quyết thủ tục gia nhập WTO cho nước đó thẩm tra. Bên tham gia có thể là tất cả các thành viên của WTO.


* Khi bên tham gia đạt những tiến triển phù hợp về các nguyên tắc và chính sách, thành viên tương lai của WTO và các nước thành viên WTO sẽ tiến hành các cuộc đàm phán song phương tập trung vào mức thuế quan, cam kết tham gia thị trường đặc biệt và các chính sách khác về hàng hóa và dịch vụ. Những cam kết của thành viên mới sẽ được trình tất cả các thành viên WTO thông qua nguyên tắc không phân biệt.


* Khi bên tham gia hoàn thành việc thẩm tra cơ chế thương mại của nước đăng ký gia nhập WTO, các cuộc đàm phán về gia nhập thị trường song phương hoàn tất, bên tham gia sẽ kết thúc các điều khoản gia nhập.


* Túi hồ sơ cuối cùng gồm bản báo cáo, nghị định thư và danh mục cam kết được đệ trình lên Hội đồng chung WTO hoặc Hội nghị Bộ trưởng WTO. Nếu hai phần ba thành viên WTO chấp thuận, nước xin gia nhập có quyền ký nghị định thư và gia nhập tổ chức. Trong một số trường hợp, Quốc hội hoặc cơ quan lập pháp của nước đó phải thông qua hiệp định trước khi thủ tục thành viên được hoàn tất.


Các nước và vùng lãnh thổ gia nhập năm 1995: Antigua và Barbuda, Argentina, Australia, áo, Bahrain, Bangladesh, Barbados, Bỉ, Belize, Bolivia, Botswana, Brasil, Brunei, Burkina Faso, Burundi, Cameroon, Canada, CH Trung Phi, Chile, Colombia, Costa Rica, Cote d'Ivoire, Cuba, Cyprus, Czech, Đan Mạch, Gibuti, Dominica, CH Dominica, Ai Cập, El Salvador, Cộng đồng châu Âu, Phần Lan, Pháp, Gabon, Đức, Ghana, Hy Lạp, Guatemala, Guinea, Guinea - Bissau, Guyana, Honduras, Hồng Công, Hungary, Iceland, ấn Độ, Indonesia, Ireland, Israel, Italy, Jamica, Nhật Bản, Kenya, Hàn Quốc, Kuwait, Lesotho, Liechtenstein, Luxembourg, Ma Cao, Madagascar, Malawi, Malaysia, Maldives, Mali, Malta, Mauritania, Mauritius, Mexico, Morocco, Mozambique, Myanmar, Namibia, Hà Lan, New Zealand, Nicaragua, Nigeria, Na Uy, Pakistan, Paraguay, Peru, Philippines, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Senegal, Sierra Leone, Singapore, CH Slovakia, Slovenia, Nam Phi, Tây Ban Nha, Sri Lanka, Suriname, Switzerland, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Tanzania, Thái-lan, Togo, Trinidad và Tobago, Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ, Uganda, Anh, Mỹ, Uruguay, Venezuela, Zambia, Zimbabwe.

Gia nhập năm 1996: Angola, Benin, Bulgaria, Chad, Ecuado, Fiji, Gambia, Grenada, Haiti, Niger, Papua New Guinea, Qatar, Rwanda, Saint Kritts và Neris, Solomon, Các tiểu vương quốc A-rập thống nhất.

Gia nhập năm 1997: Congo, CHDC Congo, Mông Cổ, Panama.

Gia nhập năm 1998: CH Kyrgyzstan.

Gia nhập năm 1999: Estonia, Latvia.

Gia nhập năm 2000: Albania, Croatia, Georga, Jordan, Oman.

Gia nhập năm 2001: Trung Quốc, Lít-va, Moldova.

Gia nhập năm 2002: Đài Loan.

Gia nhập năm 2003: Armenia, Macedonia (thuộc Liên bang Nam Tư cũ).

Gia nhập năm 2006: Việt Nam

Quốc gia và vùng lãnh thổ là ứng cử viên :

Algeria, Andorra, Azerbaijan, Bahamas, Belarus, Butan, Bosnia Herzegovina, Cam-pu-chia, Cape Verde, Guinea xích đạo, Ethiopia, Vatican, Kazakhstan, Lào, Lebanon, Nepal, Nga, Samoa, Sao Tome và Principe, A-rập Xê-út, Serbia và Montenegro, Seychelles, Sudan, Tajikistan, Tonga, Ukraine, Uzbekistan, Vanuatu, Yemen.
 
Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thành lập ngày 1-1-1995, ban đầu có 130 nước thành viên, đến nay, tổng số thành viên WTO đã lên 146, trong đó có hai phần ba là các nước đang và kém phát triển. Ngoài các thành viên chính thức, hiện nay còn 27 nước đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO như Nga, Ukraine, Cam-pu-chia, Lào, Nepal, Việt Nam, v.v... Đây là tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu, chiếm hơn 90% thương mại thế giới. Hoạt động của tổ chức này được điều tiết bởi 16 hiệp định chính. Đó là Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT 1947), Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định về thương mại hàng dệt - may, Hiệp định thực thi Điều VII về trị giá tính thuế hải quan, Hiệp định về quy tắc xuất xứ, Hiệp định thực thi Điều VI về chống bán phá giá và thuế đối kháng, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng và Điều XVI của GATT, Hiệp định về các biện pháp tự vệ và Điều XIX của GATT, Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan thương mại (TRIMS), Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịch động, thực vật, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, Hiệp định về giám định hàng hóa trước khi xếp hàng, Hiệp định về cấp phép nhập khẩu và Điều VIII của GATT, Hiệp định về mua sắm chính phủ, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan thương mại (TRIPS). Tháng 11-2001, Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế - Thương mại của WTO tại Doha Qatar đã phát động được vòng đàm phán mới sau thất bại tại Hội nghị ở Seattle. Thời gian các nước đưa ra yêu cầu đàm phán vào đầu năm 2002 và sẽ kết thúc đàm phán vào 1-1-2005. Đây là chương trình khá tham vọng. Các cuộc thương lượng diễn ra căng thẳng và phức tạp, kết quả có đạt được hay không tùy thuộc thái độ của các nước phát triển thực hiện các cam kết dành cho nước đang phát triển và kém phát triển và thiện chí của tất cả các nước nhân nhượng nhau, đặc biệt, trong các lĩnh vực nhạy cảm là trợ cấp nông nghiệp, mở cửa thị trường dịch vụ và những vấn đề mới được đưa vào đàm phán như môi trường, lao động, hỗ trợ tài chính cho các nước nghèo, v.v...


Nhận rõ được sự cần thiết tham gia tổ chức WTO, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định lại "... Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của Việt Nam và bảo đảm thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương... tiến tới gia nhập WTO...". Thực hiện chủ trương nêu trên, năm 1995 Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO. Tháng 8-1996, Việt Nam cung cấp cho WTO Bị vong lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam. Tháng 7-1998, Việt Nam tiến hành phiên họp đa phương đầu tiên với Ban công tác về minh bạch hóa các chính sách kinh tế thương mại. Tháng 12-1998 họp đa phương lần thứ hai, tháng 7-1999 họp đa phương lần thứ ba và tháng 11-2000 họp phiên đa phương lần thứ bốn. Bốn phiên này tập trung vào trả lời các câu hỏi của các thành viên Ban công tác về minh bạch hóa chính sách kinh tế thương mại. Đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam đã phải trả lời 1.700 câu hỏi. Kết thúc phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.


Sau khi cung cấp bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ, chúng ta đã tiến hành phiên đa phương thứ năm (4-2002), là phiên đầu tiên đàm phán mở cửa thị trường. Chúng ta phải cung cấp cho Ban thư ký WTO một loạt các tài liệu như bản tóm tắt hiện trạng về chính sách kinh tế thương mại (F/S); thông báo về chính sách hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp (ACC4); thông báo về chính sách hỗ trợ công nghiệp; thông báo về hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, bảy chương trình hành động thực hiện Hiệp định về sở hữu trí tuệ liên quan thương mại (TRIMS), thực hiện Hiệp định về xác định trị giá Hải quan (CVA), thực hiện Hiệp định về kiểm dịch động thực vật (SPS), thực hiện Hiệp định về hàng rào kỹ thuật liên quan thương mại (TBT), thực hiện Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu (IL), thực hiện chính sách giá (lộ trình bãi bỏ chính sách hai giá - dual prices); Chương trình xây dựng pháp luật; lộ trình cắt giảm hàng rào phi thuế quan. Tháng 5 vừa qua, chúng ta đã tiến hành phiên thứ 6 đàm phán về mở cửa thị trường. Cùng với đàm phán đa phương chúng ta đã tiến hành đàm phán song phương với hơn mười nước và vùng lãnh thổ thành viên của WTO. Cuộc đàm phán của chúng ta đang diễn ra trong điều kiện thế giới có nhiều thay đổi phức tạp và khó lường. 16 thành viên mới gia nhập là Ecuador, Bungaria, Mông Cổ, Panama, Kyrgyzstan, Latvia, Estonia, Jordan, Georgia, Albania, Oman, Goatia, Lít-va, Moldova, Trung Quốc, Đài Loan cam kết mức thuế trung bình rất thấp hầu hết là dưới 20%. Vòng Doha mới đã được phát động và theo lịch trình sẽ kết thúc vào năm 2005. Đây là sức ép rất lớn đối với Việt Nam, trong khi nền kinh tế của chúng ta vẫn trong tình trạng kém phát triển, doanh nghiệp nhỏ chiếm đa số, sức cạnh tranh yếu.


Để đạt được mục tiêu sớm gia nhập tổ chức WTO nhằm mở rộng thị trường cho hàng hóa, doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam được đối xử bình đẳng, thu hút vốn và công nghệ đòi hỏi có sự phối hợp của tất cả các bộ, ngành trong khâu chuẩn bị đàm phán và đổi mới cơ chế chính sách cho phù hợp các cam kết quốc tế, sự chuẩn bị cho nền kinh tế sẵn sàng đương đầu với thách thức mở cửa đặt ra, sự vươn lên vượt bậc của các doanh nghiệp với sự hỗ trợ nhất định của Nhà nước trong giai đoạn đầu và tranh thủ thái độ thiện chí của các thành viên WTO đàm phán với Việt Nam đưa ra những yêu cầu hợp lý phù hợp điều kiện Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp. Có như vậy mới đạt được mong muốn gia nhập WTO sớm để thúc đẩy cho việc tăng trưởng kinh tế.

LƯƠNG VĂN Tự

Thứ trưởng Bộ Thương mại
 

pinkstar

Anime Master
Chòy... coi ổng spam kà [-X ... hông có tí nghệ thuật nào [-(

Bi h VN vào WTO thì chắc chắn mọi thứ nhập khẩu sẽ rẻ hơn rất nhìu >:) .. hehe.. Hình như lợi đc mỗi cái đóa
 
Mười điều thường hiểu sai về WTO
Giới thiệu chung

WTO được thành lập nhằm tạo nên một diễn đàn thương mại, nơi các vấn đề liên quan đến thương mại được đưa ra bàn bạc, đàm phán một cách công khai, thẳng thắn. Các cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần tư nhân hoặc các tổ chức phi chính phủ cũng có thể tham gia diễn đàn thương mại toàn cầu này một cách gián tiếp thông qua chính phủ của mình. Tuy nhiên, việc tranh luận và đàm phán trên diễn đàn này chỉ thực sự có hiệu quả khi người ta có những hiểu biết đúng đắn về chức năng và nhiệm vụ của WTO.


Việc lược dịch cuốn sách "Mười điều thường hiểu sai về WTO" phần nào sẽ giúp chúng ta có sự hiểu biết đúng đắn và sâu sắc hơn về WTO.


Được thành lập vào ngày 1-1-1995, WTO, thành quả của các vòng đàm phán Uruguay từ năm 1986 đến 1994, có trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ, đến nay đã có 146 nước thành viên (tính đến ngày 4 tháng 4 năm 2003).


WTO có các chức năng cơ bản sau:

Quản lý các hiệp định thương mại thuộc hệ thống thương mại WTO,

Là diễn đàn đàm phán thương mại,
Giải quyết các tranh chấp thương mại,
Giám sát các chính sách thương mại của quốc gia thành viên,
Trợ giúp về mặt kỹ thuật và đào tạo cho các nước đang phát triển, và
Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác.

Mười điều thường hiểu sai về WTO


1. WTO áp đặt các chính sách


Không đúng vì:

WTO không vạch đường chỉ lối cho các nước thành viên trong việc thực hiện các chính sách thương mại. Ngược lại, nó là một tổ chức chịu sự điều hành của các nước thành viên. Điều đó có nghĩa là:


Các nguyên tắc của WTO là sự đồng thuận thông qua đàm phán giữa các nước thành viên,
Các nguyên tắc của WTO được quốc hội của các nước thành viên phê chuẩn, và
Các quyết định của WTO nhìn chung là dựa trên sự đồng thuận của tất cả các nước thành viên.

Nói cách khác, việc thông qua các quyết định của WTO là công khai, dân chủ và cú trách nhiệm.


Cơ hội duy nhất để WTO có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách của một nước nào đó là khi các tranh chấp có liên quan được đưa ra xem xét tại WTO và được quyết định bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp (cơ quan này bao gồm đại diện tất cả các nước thành viên). Thông thường, Cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra quyết định dựa trên các phán quyết của các ủy ban hoặc dựa trên hồ sơ phúc thẩm.


Thậm chí ngay cả khi phạm vi của các quyết định là nhỏ: Nó có thể đơn giản là việc đánh giá hoặc giải thích xem một nước có vi phạm hiệp định của WTO hay không - hiệp định mà tự thân nước thành viên đó đã chấp nhận. Nếu như nước thành viên đó đã vi phạm hiệp định, nó sẽ bị buộc phải tuân theo.


Dưới mọi góc độ, WTO không bao giờ bắt các nước phải chấp nhận hoặc từ bỏ một chính sách cụ thể nào.


Ban thư ký cũng chỉ đơn thuần là một bộ phận cung cấp các các hỗ trợ về mặt kỹ thuật, hành chính cho WTO và các nước thành viên.


2. WTO vì mục đích thương mại tự do với bất cứ giá nào


Một trong các nguyên tắc của hệ thống thương mại WTO là nhằm khuyến khích các nước thành viên hạ thấp rào cản thương mại và tạo điều kiện cho giao dịch thương mại được thực hiện tự do hơn. Xét cho cùng thì chính các nước thành viên có lợi từ việc giao dịch thương mại tăng lên do rào cản thương mại được hạ thấp.


Tuy nhiên việc hạ thấp các rào cản thương mại đến mức nào là do các nước thành viên thương lượng. Quan điểm đàm phán của họ phụ thuộc vào việc họ sẵn sàng hạ thấp rào cản thương mại đến mức nào và những gì mà họ muốn thương lượng cũng như dựa trên tiêu chí hai bên đều có lợi.


Vai trò của WTO là tạo ra một diễn đàn cho việc tự do đàm phán và cung cấp các nguyên tắc cho việc tự do hóa thương lượng đó.


Các quy định trong các hiệp định cho phép việc hạ thấp các rào cản thương mại được tiến hành một cách từ từ, để các nhà sản xuất nội địa có thời gian thích nghi với những thay đổi này.


Các hiệp định cũng quy định xem xét những khó khăn mà những nước đang phát triển phải đối mặt. Các quy định đều cho các nước thành viên biết lộ trình giảm thuế và cách thức bảo vệ các nhà sản xuất nội địa, chống lại việc nhập khẩu hàng hóa có giá thấp bất hợp lý do được trợ cấp hoặc phá giá. Mục tiêu ở đây là vì một nền thương mại công bằng.


Cũng quan trọng như thương mại tự do - còn - là các nguyên tắc khác của WTO như: không phân biệt, phải bảo đảm các điều kiện thương mại ổn định, có thể đoán trước và minh bạch.


3. WTO chỉ quan tâm đến lợi ích thương mại. Lợi ích thương mại quan trọng hơn sự phát triển


Các hiệp định của WTO đều có các điều khoản chú trọng đến lợi ích của sự phát triển.


Tự do thương mại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như hỗ trợ phát triển. Theo nghĩa đó, thương mại và phát triển thúc đẩy lẫn nhau. Đồng thời lợi ích của các nước đang phát triển có được quan tâm đúng mức hay không cũng là một chủ đề đang được tiếp tục tranh luận tại WTO. Điều đó không có nghĩa là WTO không mang lại điều gì cho những nước này. Các hiệp định của WTO có rất nhiều điều khoản tính đến lợi ích của những nước đang phát triển.


Trước khi phải thực hiện một số điều khoản của một hiệp định cụ thể, các nước đang phát triển được dành nhiều thời gian hơn. Các nước kém phát triển nhất được hưởng sự đối xử đặc biệt, kể cả việc miễn thực hiện nhiều điều khoản trong các hiệp định.

Các yêu cầu phát triển còn có thể được sử dụng để biện minh cho một số hành động mà bình thường nó có thể không được phép áp dụng theo các quy định trong hiệp định chẳng hạn như hành động trợ cấp.


4. Coi trọng lợi ích thương mại hơn môi trường


Rất nhiều quy định của WTO đặc biệt chú trọng đến vấn đề môi trường.


Lời nói đầu của “Hiệp định Marrakesh thành lập WTO” ghi nhận trong số các mục tiêu của nó có việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường.


Trong số đó, quan trọng nhất là các điều khoản bảo vệ (như Điều 20 của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại), cho phép nước thành viên WTO áp dụng các biện pháp để bảo vệ đời sống hoặc sức khoẻ của con người, động vật hoặc thực vật và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ bị cạn kiệt. Ngoài những nguyên tắc chung này, trong mỗi hiệp định về một vấn đề cụ thể đều có điều khoản chi tiết về bảo vệ môi trường. Mục tiêu môi trường được xem xét hết sức cụ thể và thận trọng trong từng hiệp định của WTO về tiêu chuẩn hàng hóa, an toàn thực phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, v.v...


Bên cạnh đó, hệ thống thương mại WTO cùng các quy tắc của nó giúp các nước thành viên sử dụng nguồn tài nguyên quý hiếm một cách có hiệu quả và tránh lãng phí.


Một phán quyết gần đây về vấn đề nhập khẩu tôm và bảo vệ rùa biển đã củng cố những nguyên tắc này. Theo nội dung của phán quyết, nước thành viên của WTO có thể áp dụng một số biện pháp để bảo vệ môi trường theo cách riêng của mình và bảo vệ các loài động thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng.


Nguyên tắc quan trọng trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ môi trường là công bằng, không phân biệt đối xử.


Các nước thành viên không được dễ dãi với các nhà sản xuất của nội địa trong khi khắt khe với hàng hóa, dịch vụ của nước ngoài. Hoặc là phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại khác nhau.


Một điều quan trọng nữa là: WTO không có nghĩa vụ xây dựng các quy tắc quốc tế về bảo vệ môi trường. Đó là nhiệm vụ của các tổ chức môi trường và các Công ước. Sự chồng chéo giữa các hiệp định về môi trường và WTO trong các hoạt động thương mại (như sự trừng phạt hoặc hạn chế nhập khẩu khác) được đưa vào thực hiện trong một hiệp định. Do đó, không có sự xung đột giữa các hiệp định của WTO và các hiệp định quốc tế về môi trường.


5. Coi trọng lợi ích thương mại hơn sức khoẻ và sự an toàn


Các hiệp định của WTO là do các nước thành viên đàm phán nên chúng phản ánh lợi ích và sự quan tâm của mỗi nước thành viên.

Các điều khoản chủ chốt trong một số hiệp định (như Điều 20 của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại) cho phép thành viên của WTO áp dụng một số biện pháp để bảo vệ đời sống hoặc sức khoẻ của con người, động vật và thực vật. Tuy nhiên bất kỳ biện pháp nào cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc chung của WTO và nước áp dụng không được sử dụng chúng như là phương tiện bảo hộ các nhà sản xuất nội địa.


Một số hiệp định quy định chi tiết hơn về tiêu chuẩn của sản phẩm, sức khoẻ và an toàn thực phẩm cũng như những sản phẩm khác có nguồn gốc từ động thực vật. Việc quy định như vậy là nhằm bảo vệ quyền của nước thành viên trong việc bảo đảm sự an toàn của công dân nước mình.


Đồng thời, những hiệp định này được thiết lập để ngăn chặn việc các nước xây dựng những quy định trái ngược nhằm phân biệt đối xử đối với hàng hóa, dịch vụ của nước ngoài.


WTO không tự nó đặt ra những tiêu chuẩn này. Trong một số trường hợp, các hiệp định quốc tế khác được ghi nhận trong các hiệp định của WTO. Thí dụ: Sự thống nhất tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm ghi nhận trong Codex Alimentarius theo tiêu chuẩn được khuyến nghị bởi Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp Quốc (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Nhưng không có sự bắt buộc phải tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế chẳng hạn như tiêu chuẩn được ghi nhận trong Codex Alimentarius. Mỗi nước có quyền tự do đặt ra hệ thống tiêu chuẩn riêng của mình miễn là chúng không trái với nguyên tắc chung cũng như không mang tính chất phân biệt đối xử.


6. WTO làm mất việc làm và tăng sự nghèo đói


Sự quy kết này là không đúng và thái quá. Thương mại có thể là một động lực mạnh mẽ tạo ra việc làm và giảm đói nghèo. Đôi khi phải có sự điều chỉnh cần thiết để giải quyết nguy cơ mất việc làm. Nhưng trong bất cứ trường hợp nào việc bảo hộ cũng không được xem là một giải pháp.


Mối quan hệ giữa thương mại và sự phát triển là phức tạp. Thương mại tự do và ổn định thúc đẩy phát triển kinh tế. Nó có tiềm năng tạo ra việc làm và cũng giúp cho việc xóa đói giảm nghèo và thường là cả hai. Bên được lợi nhiều nhất là nước hạ thấp rào cản thương mại.


Nước xuất khẩu vào nước hạ thấp rào cản cũng có lợi, nhưng ít hơn. Tuy nhiên, các nhà sản xuất nội địa và công nhân của các nước hạ thấp rào cản (trước đây được bảo vệ) rõ ràng là phải đối mặt với sự cạnh tranh mới khi hàng rào thương mại thấp hơn. Một số nhà sản xuất nội địa tồn tại được là vì biết tạo cho mình khả năng cạnh tranh tốt hơn. Một số hội nhập nhanh hơn bằng việc tìm nguồn nhân lực mới.


Cụ thể, một số nước hội nhập tốt hơn so với nước khác. Đó là do những nước này có chính sách hội nhập hiệu quả hơn. Những nước không có chính sách hội nhập hiệu quả sẽ bỏ lỡ thời cơ là sự thúc đẩy mà thương mại đem lại cho nền kinh tế.


WTO giải quyết vấn đề này bằng một số cách. Trong hệ thống thương mại WTO, sự tự do hóa được thực hiện một cách từ từ tạo điều kiện về mặt thời gian cho các nước thành viên thực hiện việc điều chỉnh cần thiết. Nhiều quy định trong các hiệp định cho phép nước thành viên áp dụng một số biện pháp tình thế nhằm giảm thiểu các thiệt hại do việc nhập khẩu có thể gây nên. Các biện pháp này, tất nhiên, phải tuân theo những quy định và trình tự hết sức chặt chẽ.


Đồng thời, sự tự do hóa trong hệ thống thương mại WTO là kết quả của việc đàm phán. Những nước cảm thấy chưa kịp thích ứng với việc mở cửa, có thể phản đối yêu cầu mở cửa đối với một số lĩnh vực cụ thể.


Trong khi thế giới vẫn còn 1.5 tỷ người dân sống trong tình trạng đói nghèo, chính sách tự do hóa thương mại đã giúp ba tỷ người thoát khỏi cuộc sống đói nghèo kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II.


7. Các nước nhỏ không có tiếng nói trong WTO


Trong hệ thống thương mại WTO, tất cả các nước (dù là nước phát triển hay nước đang phát triển) đều phải tuân theo một quy luật chung. Trong quá trình giải quyết tranh chấp của WTO, nhiều nước đang phát triển đã thành công trong việc không thừa nhận các biện pháp của các nước phát triển. Không có WTO, những nước này hẳn đã không có đủ khả năng để chống lại các nước có nền kinh tế mạnh hơn.


Hơn nữa, các nguyên tắc cũng như các hiệp định của WTO đều được thiết lập dựa trên việc đàm phán đa phương.


8. WTO là công cụ của sự vận động hành lang

Đây là kết quả đương nhiên của kiểu đàm phán "vòng tròn" (đàm phán với nhiều thành phần khác nhau) vì khi đó các lợi ích khác nhau được cân đối. Mỗi nước thành viên của WTO sẽ dễ dàng hơn trong việc loại bỏ áp lực từ các nhóm vận động riêng biệt với lý do nó phải kết hợp các lợi ích của đất nước.


Một sự hiểu sai có liên quan là về tư cách thành viên. WTO là tổ chức của các chính phủ.


Các tổ chức tư nhân, tổ chức phi chính phủ cũng như những nhóm vận động khác không tham gia trực tiếp vào hoạt động của WTO, ngoại trừ một số sự kiện đặc biệt như hội thảo, hội nghị chuyên đề, đều có thể tạo sự ảnh hưởng đối với quyết định của WTO thông qua chính phủ của mình.


9. Các nước yếu hơn bị buộc phải gia nhập WTO


Không đúng: Hầu hết các nước cảm thấy rằng họ có vị thế cao hơn khi gia nhập WTO. Điều đó giải thích tại sao danh sách các nước thành viên của WTO bao gồm những nước phát triển và đang phát triển.


Bằng cách gia nhập WTO, thậm chí là nước nhỏ cũng tự động được hưởng những lợi ích mà tất cả các nước thành viên trong WTO dành cho nhau.


Các nước có thể quyết định không gia nhập WTO mà đàm phán hiệp định thương mại song phương với nước khác. Để đạt được điều này, các nước đàm phán riêng lẻ đó có thể cần phải có tiềm lực kinh tế . Đó là một vấn đề không hề đơn giản đối với các nước nhỏ. Trong đàm phán song phương nước nhỏ hơn thì yếu thế hơn.


Bằng việc gia nhập WTO, những nước nhỏ có thể tăng cường khả năng thương lượng của mình bằng cách tạo nên một liên minh với những nước có cùng lợi ích.


10. WTO không dân chủ


Quyết định của WTO nhìn chung được thông qua trên cơ sở đồng thuận.


Sẽ là không đúng nếu nói rằng tất cả các nước có năng lực và thế thương lượng như nhau. Tuy thế, nguyên tắc đồng thuận có nghĩa là tất cả các nước đều có tiếng nói của mình và tất cả các nước đều phải được thuyết phục trước khi đồng ý. Thông thường các nước còn do dự sẽ được thuyết phục qua việc nhận được một lợi ích nào đổi lại cho sự chấp thuận của mình. Đồng thuận cũng có nghĩa là tất cả các nước đều chấp nhận quyết định đó và không có bất cứ sự phản đối nào.


Các nguyên tắc thương mại của WTO, thành quả của các Vòng đàm phán Uruguay, được các nước thành viên chấp thuận và được quốc hội các nước thành viên phê chuẩn.
 
Top